- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã thanh long PThịnh đối với ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á về việc “Tranh chấp về hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/DS-ST Ngày: 05-5-2023 V/v tranh chấp về hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Cao Thị Kim Yến.
2/ Ông Đặng Văn Minh.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 328/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST–DS ngày 31 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Hợp tác xã thanh long PThịnh. Địa chỉ: Thôn Phú Lập, xã Hàm Phú, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã thanh long PThịnh: Ông Nguyễn Minh H - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã thanh long PThịnh (có mặt).
Bị đơn: Ông Trần Hữu N - Sinh năm 1975 (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị Ngọc Á – Sinh năm 1987 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã TMinh, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
2. Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H. Địa chỉ: Ấp CRưng, xã TBình Tây, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H: Ông Lê Thanh Hạo N - Chức vụ: Chủ tịch Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thanh Hạo N: Ông Bùi Huy Đ – Chức vụ: Giám đốc vùng nguyên liệu Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H. Theo Giấy ủy quyền số 25/UQ-LTVH ngày 20/3/2023 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23/10/2022 và tại bản khai nguyên đơn Hợp tác xã thanh long PThịnh do ông Nguyễn Minh H đại diện theo pháp luật khai:
Ngày 20/5/2021, Hợp tác xã thanh long PThịnh ký kết Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/5/2021 với các hộ dân tại xã Thuận Minh (trong đó có hộ ông Trần Hữu N) do ông Trần Hữu N – làm chủ hộ đại diện ký tên.
Hợp tác xã thanh long PThịnh cung cấp giống lúa OM5451 và vật tư nông nghiệp cho hộ ông Trần Hữu N với số tiền 11.388.300đồng – 210.000đồng (tiền hỗ trợ giảm) còn 11.178.300đồng.
Ngày 25/8/2021, trước khi thu hoạch Ủy ban nhân dân xã Hàm Phú tổ chức họp để thống nhất giá thu mua lúa có đại diện Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, đại diện Ủy ban nhân dân xã Hàm Phú, đại diện Hợp tác xã thanh long PThịnh, Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H và đại diện các hộ nông dân xã Hàm Phú tham gia sản xuất, theo đó thống nhất giá thu mua lúa tươi OM 5451 tại thời điểm tháng 8/2021 là 4.700đồng/kg (do ở xã Hàm Phú thu hoạch trước mà giống lúa trồng giống nhau nên đưa ra giá của cả Hàm Phú lẫn Thuận Minh). Tại thời điểm trước khi thu hoạch thì dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp (không thể tụ tập đông người) nên Hợp tác xã thông báo giá lúa đã họp thống nhất tại Hàm Phú cho các hộ dân ở Thuận Minh (trong đó có hộ ông Trần Hữu N) tại nhà ông Nguyễn Thanh Dũng. Hộ ông Trần Hữu N không đồng ý bán với giá 4.700đồng/kg vì cho rằng giá trên quá thấp so với giá thị trường, Hợp tác xã thanh long PThịnh cũng đồng ý để hộ ông Trần Hữu N bán ra bên ngoài và phải thanh toán lại tiền lúa giống và vật tư nông nghiệp.
Sau khi kết thúc vụ mùa, Hợp tác xã thanh long PThịnh cùng ông Trần Hữu N ký Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng vào ngày 23/02/2022. Theo Biên bản này hộ ông Trần Hữu N đã trả số tiền 9.378.300đồng còn lại số tiền 1.800.000đồng thì hộ ông Nghị không đồng ý trả và yêu cầu Hợp tác xã thanh long PThịnh phải hỗ trợ cho hộ ông số tiền này. Do không có chính sách hỗ trợ nên Hợp tác xã thanh long PThịnh không đồng ý và yêu cầu hộ ông Nghị phải trả đủ số tiền mà Hợp tác xã thanh long PThịnh đã cung cấp lúa giống, vật tư nông nghiệp.
Hợp tác xã thanh long PThịnh yêu cầu ông Trần Hữu N, bà Ngô Thị Ngọc Á phải hoàn trả chi phí đầu tư theo hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/05/2021 còn thiếu 1.800.000đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn ông Trần Hữu N khai: Ngày 20/5/2021, hộ gia đình ông ký kết Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đúng như Hợp tác xã thanh long PThịnh trình bày. Trong đó Hợp đồng có nêu rõ khi thu hoạch lúa phải bán cho Hợp tác xã không được bán ra bên ngoài và mức giá phải cao hơn hoặc bằng mức giá thị trường thu mua lúa bên ngoài. Trước khi thu hoạch Hợp tác xã thông báo 4.700đồng/kg là quá rẻ so với giá thị trường do đó ông không đồng ý bán lúa cho Hợp tác xã nhưng khi ông bán lúa cho thương lái thì bị ép giá dẫn đến việc phải bán lúa giá thấp hơn người khác, gây ra thiệt hại cho hộ ông, thiệt hại này Hợp tác xã phải chịu trách nhiệm nên khi đi thanh lý hợp đồng ông đã trả cho Hợp tác xã số tiền 9.378.300đồng còn lại số tiền 1.800.000đồng ông không đồng ý trả vì lý do trên. Ông Trần Hữu N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H do ông Bùi Huy Đ đại diện theo ủy quyền trình bày: Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H (sau đây gọi là Công ty) với Hợp tác xã thanh long PThịnh có ký kết Hợp đồng liên kết sản xuất lúa. Công ty cung cấp lúa giống cho Hợp tác xã, đưa ra giá thu mua lúa tươi và thu mua lúa từ Hợp tác xã thanh long PThịnh. Trước thời điểm thu hoạch, Công ty cũng cử thành viên tham gia họp đưa ra giá thu mua lúa tươi với sự chủ trì của Ủy ban nhân dân xã Hàm Phú cùng có mặt đại diện Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện đại diện Hợp tác xã thanh long PThịnh và đại diện các hộ nông dân xã Hàm Phú (việc cử thành viên tham gia là do Hợp tác xã và Công ty có ký Hợp đồng liên kết với nhau chứ không liên quan gì đến việc thu mua lúa tươi trực tiếp từ các hộ dân). Sau khi thu hoạch các hộ dân tại xã Thuận Minh không đồng ý bán lúa cho Hợp tác xã và việc này cũng không có liên quan gì đến Công ty nên Công ty không can thiệp vào.
Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H không có ký kết cung cấp lúa giống, vật tư nông nghiệp cho người dân, không liên quan đến số tiền mà Hợp tác xã thanh long PThịnh với người dân, không có liên quan gì đến vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Ngọc Á đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 117, Điều 385, Điều 398 và Điều 405 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã thanh long PThịnh đối với ông Trần Hữu N, bà Ngô Thị Ngọc Á về việc “Tranh chấp về hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sẩn phẩm”. Buộc ông Trần Hữu N, bà Ngô Thị Ngọc Á phải có trách nhiệm trả cho Hợp tác xã thanh long PThịnh số tiền 1.800.000đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng).
+ Về án phí: Ông Trần Hữu N, bà Ngô Thị Ngọc Á phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền nguyên đơn đã cung ứng theo Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/5/2021 và đã được thanh lý hợp đồng theo Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 23/02/2022. Đây là tranh chấp về hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 1, xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Trần Hữu N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Ngọc Á đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 20/3/2023. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H.
Về nội dung:
Hợp tác xã thanh long PThịnh (sau đây gọi tắt là Hợp tác xã) yêu cầu ông Trần Hữu N, bà Ngô Thị Ngọc Á phải hoàn trả chi phí đầu tư còn thiếu theo Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/05/2021 và Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 23/02/2022 số tiền 1.800.000đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa Hợp tác xã thanh long PThịnh và hộ ông Trần Hữu N có ký kết Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/5/2021, với nội dung Hợp tác xã cung cấp lúa giống, vật tư nông nghiệp (nếu hộ dân có nhu cầu về vật tư nông nghiệp) và thu mua lúa tươi (lúa đã thu hoạch) cho hộ ông Trần Hữu N, vụ lúa bắt đầu từ tháng 05/2021 đến khi thu hoạch khoảng tháng 09/2021. Vì vậy, việc hợp đồng ký kết giữa Hợp tác xã và hộ ông Trần Hữu N là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117, Điều 385, Điều 398 và Điều 405 Bộ luật Dân sự.
Hợp tác xã đã cung ứng lúa giống và vật tư nông nghiệp với giá trị 11.178.300đồng (đã trừ 210.000đồng tiền hỗ trợ giảm) theo Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 23/02/2022. Trước khi thu hoạch lúa, Hợp tác xã thông báo giá thu mua lúa tươi là 4.700đồng/kg, do hộ ông Trần Hữu N không đồng ý giá đã đưa ra nên không đồng ý bán lúa cho Hợp tác xã mà bán lúa cho thương lái bên ngoài. Hợp tác xã yêu cầu hộ ông Trần Hữu N thanh toán tiền lúa giống và vật tư nông nghiệp thì hộ ông Trần Hữu N đã thanh toán số tiền 9.378.300đồng còn lại số tiền 1.800.000đồng (được hộ ông Nghị tính như sau: 1.200.000đồng/hecta x 1,5 hecta (diện tích hộ ông Trần Hữu N canh tác) = 1.800.000đồng) không trả cho Hợp tác xã mà yêu cầu Hợp tác xã phải hỗ trợ cho người dân sản xuất lúa. Đối với số tiền mà Hợp tác xã đã cung ứng lúa giống và vật tư nông nghiệp theo Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 23/02/2022 thì ông Trần Hữu N không có ý kiến chỉ có yêu cầu trừ lại số tiền 1.800.000đồng do Hợp tác xã đã gây thiệt hại cho hộ ông khi hộ ông bán lúa rẻ hơn giá thị trường 200đ/kg.
Xét Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/05/2021:
+ Theo Khoản 1 Điều 1 Hợp đồng quy định “Giá thu mua: Thu mua theo giá thị trường. Trước thời điểm thu hoạch khoảng 7 – 15 ngày, các bên cùng với Công ty Lộc Trời (theo nguyên đơn xác định là Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H thuộc Tập đoàn Lộc Trời nên gọi tắt là Công ty Lộc Trời) sẽ thỏa thuận đơn giá thu mua lúa tươi với sự chứng kiến của UBND xã Thuận Minh”: Ngày 25/8/2021, Hợp tác xã, đại diện Ủy ban nhân dân xã Hàm Phú, đại diện Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H là ông Huỳnh Đức Bảo Toàn, cùng đại diện Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hàm Thuận Bắc tổ chức cuộc họp để đưa ra giá thu mua lúa tươi (giống lúa OM 5451) theo giá thị trường tại địa bàn xã Hàm Phú cũng như địa bàn xã Thuận Minh là 4.700đồng/kg do giống lúa giống nhau nên giá đưa ra áp dụng cho cả xã Hàm Phú lẫn xã Thuận Minh (Căn cứ theo Giấy xác nhận ngày 15/3/2023), sau đó ngày 02/9/2021 Hợp tác xã đã thông báo giá thu mua lúa tươi theo kết quả cuộc họp ngày 25/8/2021 cho các hộ dân tại xã Thuận Minh (trong đó có hộ ông Trần Hữu N).
+ Theo Điều 5 Hợp đồng “Bên A không cân hết sản lượng mà bên B đã làm ra thì bên A sẽ mất tất cả giống và vật tư nông nghiệp mà bên A đầu tư cho bên B”: Sau khi thu hoạch lúa hộ ông Trần Hữu N không đồng ý bán lúa cho Hợp tác xã mà bán cho thương lái vì giá thu mua lúa tươi (giống lúa OM 5451) thấp hơn các giống lúa khác tại địa phương. Hợp tác xã cũng đồng ý để hộ ông Trần Hữu N bán lúa cho các thương lái thu mua lúa bên ngoài với giá cao hơn nhưng phải thanh toán tiền lúa giống, tiền vật tư nông nghiệp lại cho Hợp tác xã và trên thực tế hộ ông Trần Hữu N đã thanh toán lại chi phí lúa giống vật tư nông nghiệp cho Hợp tác xã với số tiền 9.378.300đồng chỉ còn nợ lại số tiền 1.800.000đồng (theo nội dung bản sao Biên bản họp về giá thu mua lúa OM5451 sau khi tham gia chuỗi liên kết sản xuất ngày 02/9/2021).
Do đó, Hợp tác xã không vi phạm khoản 1 Điều 1 và Điều 5 Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/05/2021.
Về trách nhiệm trả tiền, Hợp tác xã yêu cầu ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á cùng có nghĩa vụ trả số tiền trên. Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Minh (theo Biên bản xác minh ngày 29/12/2022) và hộ ông Trần Hữu N sản xuất nông nghiệp vụ lúa từ tháng 05/2021 đến tháng 09/2021 gồm ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á. Việc ký kết Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/05/2021 và Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 23/02/2022 đều đại diện cho hộ gia đình, việc canh tác sản xuất, mua bán lúa với mục đích sinh lời cho gia đình, đây là một trong những nguồn thu nhập của gia đình ông Trần Hữu N đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á phải có trách nhiệm cùng trả nợ là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 27, Khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Vì vậy, căn cứ vào Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày 20/05/2021 và Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 23/02/2022, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã thanh long PThịnh.
Giữa Hợp tác xã và Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H có ký Hợp đồng liên kết sản xuất lúa với nội dung cung ứng lúa giống, vật tư nông nghiệp cho Hợp tác xã; thỏa thuận đơn giá thu mua lúa và Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H là đơn vị thu mua sản phẩm từ Hợp tác xã. Do đó, số tiền cung ứng lúa giống và vật tư nông nghiệp giữa hộ ông Trần Hữu N với Hợp tác xã không ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh H.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Hợp tác xã thanh long PThịnh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 95, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 117, Điều 385, Điều 398 và Điều 405 Bộ luật Dân sự.
Khoản 2 Điều 27, Khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã thanh long PThịnh đối với ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á về việc “Tranh chấp về hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm”.
Buộc ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á phải có trách nhiệm trả cho Hợp tác xã thanh long PThịnh số tiền 1.800.000đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
Ông Trần Hữu N và bà Ngô Thị Ngọc Á phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hợp tác xã thanh long PThịnh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Hợp tác xã thanh long PThịnh số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014259 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa (nếu có) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc; - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |