vanban.org

Bản án 18/2022/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 02/12/2022 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xin Hui, sửa một phần Bản án số 07/2022/LĐ-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương như sau:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn Văn T đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X về việc “tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”. Tuyên bố hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X đối với ông Văn Văn T là trái pháp lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Văn Văn T - Công ty TNHH X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xin Hui, sửa một phần Bản án số 07/2022/LĐ-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/LĐ-PT
Ngày 02-12-2022
V/v tranh chấp đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đắc Cường.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Công Lực;

Ông Huỳnh Văn Luật.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 21/2022/TLPT-LĐ ngày 05/10/2022 về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 07/2022/LĐ-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 26/2022/QĐ-PT ngày 10/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 14/2022/QĐ-PT ngày 24/11/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Văn Văn T, sinh năm 1999; thường trú: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Hữu T, sinh năm 1981; thường trú: thôn 5, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên lạc: số 45N/6, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 05/3/2022); có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Hữu T là Luật sư của Công ty TNHH Hãng luật R, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: số 59/3/14, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ: lô J17, đường N3, khu Công nghiệp T, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông J, sinh năm 1973; chức vụ: Phó Giám đốc (theo Giấy ủy quyền ngày 06/6/2022); có mặt.

- Người phiên dịch của bị đơn: bà Ninh Ngọc Á, sinh ngày 29/7/1992; địa chỉ: khu phố 2, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, là nhân viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; có mặt.

3. Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2021, gửi đến Tòa án ngày 30/11/2021 của nguyên đơn ông Văn Văn T (gọi tắt là ông T) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ông T bắt đầu làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt là Công ty) từ ngày 30/10/2020. Công ty không ký hợp đồng lao động mà chỉ thỏa thuận miệng với người lao động, nội dung thỏa thuận: Công ty tuyển dụng ông T vào làm công nhân, công việc phải làm là công nhân tại tổ cắt, bộ phận sản xuất sản phẩm đệm mút của Công ty; thời gian làm việc là 08 giờ/ngày, 48 giờ/tuần, tuần làm việc từ thứ hai đến thứ bảy, các ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, tết theo quy định của pháp luật; tiền lương cơ bản theo thỏa thuận 03 tháng đầu làm việc là 4.429.000 đồng/tháng, sau 03 tháng thì lương cơ bản là 4.749.000 đồng/tháng, cùng các khoản phụ cấp gồm: chuyên cần 800.000 đồng; tiền xăng và nhà trọ 400.000 đồng; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận lao động, ông T luôn chấp hành tốt các điều khoản mà các bên thỏa thuận, nghiêm chỉnh chấp hành tốt các nội quy, quy định của Công ty về thời gian làm việc, an toàn lao động và hoàn thành các công việc được giao.

Ngày chủ nhật là ngày nghỉ hàng tuần của người lao động, Công ty không thông báo cho ông T đi làm ngày chủ nhật. Ngày chủ nhật 24/01/2021, gia đình ông T có công việc nên ông T không đi làm. Ngày 25/01/2021, ông T đi làm ca đêm, từ 19 giờ 30 tối đến 08 giờ sáng hôm sau. Ngày 26/01/2021, Công ty lập biên bản về việc ông Trí không đi làm chủ nhật (ngày 24/01/2021), bắt ông T ký vào biên bản và trừ 200.000 đồng tiền lương cơ bản của ông T, ông T không đồng ý với việc trừ tiền nên thắc mắc thì Công ty đuổi việc ông Trí và không cho ông T làm nữa (Quản đốc người Trung Quốc cho người đuổi ông T ra khỏi Công ty). Nhận thấy, Công ty viện dẫn lý do người lao động không đi làm ngày chủ nhật thì bị trừ 200.000 đồng tiền lương cơ bản là trái luật, việc Cọng ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông T là không có căn cứ. Ngoài ra, Công ty tuyển dụng lao động nhưng không ký hợp đồng bằng văn bản, không khai báo, đăng ký và đóng các khoản bảo hiểm cho người lao động. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, Công ty không tổ chức họp xử lý kỷ luật, không mời người lao động tham gia họp xử lý kỷ luật, không có đại diện Ban Chấp hành Công đoàn, không đúng trình tự của pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và ích hợp pháp của ông T. Ông T cho rằng Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với ông T nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc Công ty phải trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong những ngày ông Văn Văn T không được làm việc, tính từ ngày 26/01/2021 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (ngày 24/5/2022) tạm tính là 16 tháng, cụ thể:

- Tiền lương những ngày không được làm việc là 16 tháng x 5.949.000 đồng/tháng = 95.184.000 đồng.

- Bồi thường 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động là 02 tháng x 5.949.000 đồng/tháng = 11.898.000 đồng.

- Bồi thường tiền lương do Công ty vi phạm thời gian báo trước là 30 ngày làm việc x (5.949.000 đồng : 26 ngày) = 6.864.000 đồng.

- Yêu cầu Công ty phải nhận ông T trở lại làm việc. Trường hợp Công ty không nhận ông T trở lại làm việc thì ngoài các khoản tiền nêu trên, Công ty phải bồi thường thêm cho ông T các khoản tiền sau:

+ Bồi thường một khoản tiền tương ứng với 04 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động x 5.949.000 đồng/tháng = 23.796.000 đồng.

+ Bồi thường một khoản tiền thay cho tiền trợ cấp thất nghiệp là 7.000.000 đồng/tháng x 60% x 03 tháng = 12.600.000 đồng.

+ Tiền phép năm: năm 2020 còn lại 5 ngày; năm 2021 là 12 ngày, tổng cộng là 17 ngày phép năm, lương bình quân 1 ngày làm việc theo mức lương cơ bản 229.000 đồng x 17 ngày = 3.893.000 đồng.

Tổng cộng: ông Văn Văn T yêu cầu Công ty phải thanh toán số tiền 154.326.000 đồng.

Và Công ty có nghĩa vụ đóng cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp như sau:

- Bảo hiểm xã hội: 5.949.000 đồng/tháng x 16 tháng x 17,5%/tháng = 16.657.000 đồng.

- Bảo hiểm y tế: 5.949.000 đồng/tháng x 16 tháng x 3%/tháng = 2.855.500 đồng.

- Bảo hiểm thất nghiệp: 5.949.000 đồng/tháng x 16 tháng x 1%/tháng = 951.800 đồng.

- Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: 5.949.000 đồng/tháng x 16 tháng x 0,5%/tháng = 475.900 đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt là Công ty) trình bày: ông T là công nhân của Công ty, có thời gian làm việc thực tế tại Công ty từ ngày 30/10/2020 đến ngày 26/01/2021, mức lương cơ bản tháng đầu làm việc là 4.420.000 đồng, phụ cấp chuyên cần 800.000 đồng, phụ cấp nhà ở 200.000 đồng, phụ cấp xăng xe 200.000 đồng. Sau 01 tháng làm việc, mức lương cơ bản thay đổi tăng lên 4.729.000 đồng. Theo quy định của Công ty, thời gian thử việc là 03 tháng, giữa Công ty với ông T không ký hợp đồng thử việc và hợp đồng lao động. Tại thời điểm thỏa thuận thử việc, hai bên không thỏa thuận khi kết thúc thời gian thử việc sẽ ký hợp đồng lao động loại gì. Tuy nhiên, đối với công việc là công nhân tổ cắt, sau khi kết thúc thời gian thử việc Công ty sẽ giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm.

Vì trong thời gian thử việc nên Công ty chưa ký hợp đồng lao động với ông Trí và ông Trí chưa tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định. Công ty đã trả lương cho ông Trí 03 lần trong những ngày làm việc, cụ thể: tháng 10/2020 trả 578.000 đồng, tháng 11/2020 trả 9.100.000 đồng, tháng 12/2020 trả 7.631.000 đồng. Ngày 26/01/2021, do ông T phát sinh mâu thuẫn với người quản lý nên thông qua Ban chấp hành Công đoàn, Phòng nhân sự, Ban giám đốc Công ty xử lý kỷ luật cho ông T thôi việc và giải quyết lương tháng 01 năm 2021. Công ty X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại Công văn số 01/CV-BHXH ngày 05/01/2022 của Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên xác định: Công ty TNHH X chưa đăng ký bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Văn Văn T, sinh năm 1990; thường trú: ấp Bình Phú 1, xã P, huyện P, tỉnh An Giang tại Bảo hiểm xã hội thị xã T.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 07/2022/LĐ-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã T đã căn cứ vào các Điều 32, 40, 91, 92, 147, 244, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 22, 29, 38, 41, 42 và 90 của Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 19, khoản 2 và khoản 5 Điều 21, Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Điều 21 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ; Án lệ số 20/2018/AL; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Văn Văn T đối với Công ty TNHH X về việc “tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Tuyên bố hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty TNHH X đối với ông Văn Văn T là trái pháp luật.

Buộc Công ty TNHH X phải bồi thường cho ông Văn Văn T tổng số tiền 70.935.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc Công ty TNHH X phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc và trích từ tiền lương của ông Văn Văn T được bồi thường nêu trên đối với phần ông Văn Văn T phải đóng để đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc cho ông Văn Văn T theo qui định của pháp luật với mức lương cơ bản 4.729.000 đồng/tháng tại Cơ quan bảo hiểm xã hội thị xã T. Việc đóng bảo hiểm xã hội Công ty phải thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Án phí lao động sơ thẩm: ông Văn Văn T không phải chịu. Công ty TNHH X phải chịu 2.128.000 đồng.

Ngày 06/6/2022, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án số 07/2022/LĐ-ST ngày 24-5-2022 của Tòa án nhân dân thị xã T, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn Văn T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T. Hai bên đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới và không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, nhận thấy: sau khi kết thúc thời gian thử việc, ông T vẫn tiếp tục làm việc tại Công ty nên có căn cứ xác định giữa Công ty với ông T đã giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm. Việc Công ty cho ông T thôi việc nhưng không thực hiện báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Công ty phải bồi thường cho ông T là có căn cứ. Tuy nhiên, thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử (ngày 24/5/2022) là đã hết hạn hợp đồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Công ty phải bồi thường 02 tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần này.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự, luật sư và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án lao động về việc “tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về pháp luật áp dụng: quan hệ lao động được thực hiện vào thời điểm Bộ luật Lao động năm 2012 có hiệu lực nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật này làm căn cứ giải quyết là phù hợp.

Xét đơn kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt là Công ty) được thực hiện trong thời hạn luật định và người kháng cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

Xét nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo của Công ty, nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án, Công ty thừa nhận ông T vào làm việc tại Công ty từ ngày 30/10/2020 đến ngày 26/01/2021; công việc là công nhân tổ cắt, bộ phận sản xuất sản phẩm đệm mút của Công ty, mức lương cơ bản tháng đầu làm việc là 4.420.000 đồng/tháng; phụ cấp chuyên cần 800.000 đồng, phụ cấp nhà ở 200.000 đồng, phụ cấp xăng xe 200.000 đồng. Sau 01 tháng làm việc mức lương cơ bản thay đổi, tăng lên 4.729.000 đồng/tháng. Theo quy định của Công ty, thời gian thử việc là 03 tháng, giữa Công ty với ông H không ký hợp đồng thử việc và chưa ký hợp đồng lao động. Ngày 26/01/2021, do ông T phát sinh mâu thuẫn với người quản lý nên Công ty ban hành Thông báo số 10-XH ngày 26/01/2021 cho thôi việc đối với ông T. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây được xem là “những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh”.

[5] Theo quy định tại Điều 27 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều này thì ông T là công nhân tổ cắt (công nhân kỹ thuật) nên thời gian thử việc là không quá 30 ngày. Việc người đại diện hợp pháp của Công ty cho rằng Công ty quy định thời gian thử việc 03 tháng là trái với quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động năm 2012.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật Lao động năm 2012 thì “Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động”. Sau khi kết thúc thời gian thử việc, mặc dù Công ty không ký kết hợp đồng lao động với ông Văn Văn T, nhưng ông T vẫn tiếp tục làm việc tại Công ty cho đến ngày 26/01/2021 thì bị Công ty cho nghỉ việc. Do đó, căn cứ Án lệ số 20/2018/AL ngày 17/10/2018, được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, có căn cứ xác định giữa Công ty với ông T đã xác lập quan hệ hợp đồng lao động kể từ ngày 29/11/2020 theo loại hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm. Vấn đề này phù hợp với thỏa thuận của Công ty với ông T về mức lương cơ bản, cụ thể: Tháng đầu làm việc là 4.420.000 đồng/tháng (tương ứng với thời gian thử việc 30 ngày); sau 01 tháng làm việc, mức lương cơ bản thay đổi tăng lên 4.729.000 đồng/tháng.

Xét việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông T, nhận thấy: Công ty cho rằng trong thời gian thử việc, ông T phát sinh mâu thuẫn với người quản lý, gây ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nên Công ty ban hành Thông báo số 10-XH ngày 26/01/2021 cho ông T thôi việc kể từ ngày 26/01/2021, nhưng Công ty không báo cho ông T biết trước ít nhất 30 ngày là vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Lao động năm 2012. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với ông T, buộc Công ty phải có trách nhiệm trả tiền lương những ngày ông T không được làm việc kể từ ngày 26/01/2021 đến khi kết thúc hợp đồng (ngày 28/11/2021), cộng với 02 tháng lương theo hợp đồng, truy đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho ông T kể từ ngày 29/11/2020 cho đến khi kết thúc hợp đồng và bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước theo mức lương cơ bản 4.729.000 đồng/tháng là đúng quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 42 của Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 19, khoản 2 Điều 21, khoản 5 Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội. Về khoản tiền phụ cấp chuyên cần 800.000 đồng, phụ cấp nhà ở 200.000 đồng và phụ cấp xăng xe 200.000 đồng là những khoản ông Trí được lãnh khi tham gia lao động; việc ông T yêu cầu Công ty phải bồi thường các khoản này là không có căn cứ. Tuy nhiên, về tiền lương những ngày ông Trí không được làm việc kể từ ngày 26/01/2021 đến ngày 28/11/2021 là 10 tháng 02 ngày, Tòa án cấp sơ thẩm “làm tròn là 10 tháng” là không phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, nhưng do ông T không có đơn kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét, nhưng cần rút kinh nghiệm.

Xét việc ông T yêu cầu Công ty phải nhận ông T trở lại làm việc, nhận thấy: theo như phân tích tại mục [6] thì Công ty xác lập quan hệ hợp đồng lao động với ông Trí có thời hạn 01 năm, kể từ ngày 29/11/2020 đến ngày 28/11/2021. Ngày 30/11/2021, ông T nộp đơn khởi kiện và tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/5/2022) là đã hết thời hạn của hợp đồng lao động nên việc ông T khởi kiện yêu cầu Công ty phải nhận ông T trở lại làm việc; trường hợp Công ty không nhận ông T trở lại làm việc thì phải bồi thường thêm 04 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động với số tiền 23.796.000 đồng để kết thúc hợp đồng là không có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty phải bồi thường cho ông T 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 42 của Bộ luật Lao động năm 2012 là không phù hợp.

Theo như phân tích tại mục [7] thì Công ty phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Trí các khoản, gồm: tiền lương những ngày không được làm việc là 10 tháng x 4.729.000 đồng/tháng = 47.290.000 đồng; 02 tháng lương theo hợp đồng lao động là 9.458.000 đồng; 30 ngày lương do vi phạm thời gian báo trước là 4.729.000 đồng. Tổng cộng: 61.477.000 đồng.

Về vấn đề truy đóng bảo hiểm: Tòa án cấp sơ thẩm “Buộc Công ty TNHH X phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc và trích từ tiền lương của ông Văn Văn T được bồi thường nêu trên đối với phần ông Văn Văn T phải đóng để đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc cho ông Văn Văn T theo qui định của pháp luật với mức lương cơ bản 4.729.000 đồng/tháng”, nhưng không ghi rõ truy đóng từ thời gian nào đến thời gian nào là không thi hành được.

Từ những phân tích và lập luận nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X, sửa một phần Bản án số 07/2022/LĐ-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã T theo như đã nhận định tại mục [8], [10] nêu trên và án phí lao động sơ thẩm.

Về án phí lao động phúc thẩm: do Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm nên Công ty không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xin Hui, sửa một phần Bản án số 07/2022/LĐ-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương như sau:

Căn cứ Điều 22, khoản 2 Điều 27, khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 38; các Điều 41, 42 và 90 của Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 19, khoản 2 và khoản 5 Điều 21, Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Điều 21 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ và Án lệ số 20/2018/AL ngày 17/10/2018, được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn Văn T đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X về việc “tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Tuyên bố hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X đối với ông Văn Văn T là trái pháp luật.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Văn Văn T tổng số tiền 61.477.000 (sáu mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải truy đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc và được trích từ tiền lương của ông Văn Văn T được bồi thường nêu trên đối với phần của ông Văn Văn T phải đóng, để đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc cho ông Văn Văn T theo quy định của pháp luật kể từ ngày 29/11/2020 đến ngày 28/11/2021 với mức lương cơ bản 4.729.000 đồng/tháng tại Cơ quan bảo hiểm xã hội thị xã T. Việc đóng bảo hiểm xã hội Công ty phải thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Án phí lao động sơ thẩm:

Ông Văn Văn T được miễn theo quy định.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 1.844.000 (một triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.

2. Về án phí lao động phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X không phải chịu. Hoàn trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn X số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0005983 ngày 21/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ