vanban.org

Bản án 18/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 07/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, h, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Hải phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Hải: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hải phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, h, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HSST
Ngày 07 - 3 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Sơn Mứt

2. Ông Lương Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Nhơn – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2022/TLST- HS ngày 18 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hải, sinh năm 1976; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Tổ 7, khóm Y, phường CVn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoan, sinh năm 1955 (chết) và bà Để, sinh năm 1955; Có vợ: Dung, sinh năm 1979; Con có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhở nhất sinh năm 2011; Anh em ruột có 01 người sinh năm 1984. Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo đang tại ngoại và có m t tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Ngọc, sinh năm 1995 - vắng m t

Địa chỉ: Tổ 5, ấp HT, xã NVT, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1. Bà Sương, sinh năm 1967 - vắng m t

Địa chỉ: Tổ 4, Khóm H, phường XC, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bà Hằng, sinh năm 1974 – vắng m t

Địa chỉ: Tổ 5, ấp HT, xã NVT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 26/10/2021, Hải điều khiển xe máy nhãn hiệu Exciter màu đen - đỏ biển số 64H1-126.04 đi từ nhà thuộc tổ 7, khóm 3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đến chợ Bình Minh để mua thức ăn. Khi đến tiệm bán đồ gia dụng Phan Khánh thuộc tổ 4, khóm 1, phường CV, thị xã Bình Minh, Hải nhìn thấy xe máy nhãn hiệu Grande màu trắng biển số 64K1- 290.32 đậu trước cửa tiệm, trên xe có treo 01 cái túi xách là tài sản của chị Ngọc, sinh năm 1995 nên nảy sinh ý định lấy trộm túi xách. Hải chạy xe lại dừng gần xe của chị Ngọc rồi quan sát xung quanh, xác định không người chú ý nên Hải lấy túi xách và điều khiển xe chạy đi. Hải đem túi xách đến dạ cầu CV Nhỏ mở ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có số tiền 2.463.000đồng và các giấy tờ tùy thân của chị Ngọc gồm có: thẻ căn cước công dân, giấy phép lái xe hạng A1, thẻ ATM ngân hàng Techcombank, thẻ ATM ngân hàng TP Bank. Hải lấy số tiền 2.463.000đồng cất giữ để tiêu xài còn túi xách cùng các loại giấy tờ tùy thân trong túi xách ném bỏ xuống sông.

Sau khi mua đồ xong, chị Ngọc đi ra từ tiệm Phan Khánh thì phát hiện bị mất túi xách treo trên xe nên đến trình báo đến Công an phường CV lập biên bản, giải quyết vụ việc theo quy định. Qua trích xuất camera tại hiện trường Công an phường CV xác định được hình ảnh Hải lấy trộm túi xách của chị Ngọc nên mời Hải về làm việc, thì Hải thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp lại số tiền 2.000.000đồng lấy trộm để khắc phục cho chị Ngọc, số tiền còn lại Hải khai đã tiêu xài hết.

Xét thấy hành vi của Hải đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Bình Minh ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Hải và cho tại ngoại để điều tra, xử lý.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

Qua trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của Hải các tài sản: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen – đỏ biển số 64H1-126.04, 01 áo sơ mi ngắn tay vạt bầu màu trắng xanh có sọc caro, 01 quần soọc jean màu trắng xanh đã củ, bạc màu, 01 đôi dép nhựa màu xanh đã qua sử dụng, quai ngang trên quai dép có 04 sọc màu trắng, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ phía trước mũ có biểu tượng Home Credit. Đây là tài sản riêng của Hải không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho Hải.

Bản cáo trạng số: 04/CT-VKSBM ngày 17/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố bị cáo Hải về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, khẳng định nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời phân tích các yếu tố cầu thành tội phạm, đánh giá tính chất mức độ, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đề nghị hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo: Hải phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, h, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Hải mức án từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Đề nghị trả lại cho bị cáo Hải các tài sản gồm: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen – đỏ biển số 64H1-126.04, 01 áo sơ mi ngắn tay vạt bầu màu trắng xanh có sọc caro, 01 quần soọc jean màu trắng xanh đã củ, bạc màu, 01 đôi dép nhựa màu xanh đã qua sử dụng, quai ngang trên quai dép có 04 sọc màu trắng, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ phía trước mũ có biểu tượng Home Credit.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Ngọc yêu cầu bị cáo Hải bồi thường tổng số tiền bị mất và chi phí phát sinh để làm lại các giấy tờ tùy thân do không thu hồi được là: 3.963.000đồng. Bị cáo Hải đã bồi thường xong, chị Ngọc không yêu cầu gì thêm.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp.

Xét việc vắng m t của bị hại Ngọc, đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng m t tại phiên tòa. Bị hại đã có lời khai rõ ràng, đã nhận lại đủ số tiền bồi thường xong; Về phần trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì thêm, hơn nữa việc vắng m t của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng m t.

Tại phiên Tòa; Bị cáo Hải khai nhận: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 26/10/2021 bị cáo Hải điều khiển xe máy biển số 64H1-126.04 đi từ nhà ra chợ Bình Minh để mua đồ ăn. Khi chạy ngang tiệm Phan Khánh thuộc tổ 4, khóm 1, phường CV, thì bị cáo phát hiện có 01 túi xách màu đen, hình chữ nhật kích thước 10 x 20cm của chị Ngọc đang treo trên xe máy biển số 64K1- 290.32 đậu phía trước tiệm Phan Khánh, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm để có tiền tiêu xài. Bị cáo Hải chạy xe đến dựng gần xe của chị Ngọc và quan sát xung quanh, xác định không có người chú ý đến bị cáo nên lén lút lấy trộm túi xách rồi chạy đến dạ cầu CV Nhỏ kiểm tra tài sản thì phát hiện có số tiền 2.463.000đồng và các giấy tờ tùy thân của chị Ngọc. Hải lấy số tiền 2.463.000đồng cất giữ để tiêu xài còn túi xách và giấy tờ bên trong bị cáo ném bỏ xuống sông, không thu hồi được. Bị cáo thừa nhận hành vi trên của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật và hứa sau này không tái phạm.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe, nhưng thích sống hưởng thụ, lười lao động nên dẫn đến việc phạm tội như trên. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Sau khi phạm tội bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng điểm b, s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Với mức độ phạm tội này, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, vẫn đảm bảo giáo dục và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Hải

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại các tài sản cho bị cáo Hải gồm: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen – đỏ biển số 64H1-126.04, 01 áo sơ mi ngắn tay vạt bầu màu trắng xanh có sọc caro, 01 quần soọc jean màu trắng xanh đã củ, bạc màu, 01 đôi dép nhựa màu xanh đã qua sử dụng, quai ngang trên quai dép có 04 sọc màu trắng, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ phía trước mũ có biểu tượng Home Credit.

Vật chứng được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh theo biên bản giao nhận ngày 19/01/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Ngọc yêu cầu bị cáo Hải bồi thường tổng số tiền bị mất và chi phí phát sinh để làm lại các giấy tờ tùy thân do không thu hồi được là: 3.963.000đồng. Bị cáo Hải đã bồi thường xong, chị Ngọc không yêu cầu gì thêm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, h, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Tuyên bố: Bị cáo Hải phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hải: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/3/2022.

Giao bị cáo Hải cho Ủy ban nhân dân phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hải thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2/Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hải đã bồi thường cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

3/Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại các tài sản cho bị cáo Hải gồm: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen – đỏ biển số 64H1-126.04, 01 áo sơ mi ngắn tay vạt bầu màu trắng xanh có sọc caro, 01 quần soọc jean màu trắng xanh đã củ, bạc màu, 01 đôi dép nhựa màu xanh đã qua sử dụng, quai ngang trên quai dép có 04 sọc màu trắng, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ phía trước mũ có biểu tượng Home Credit.

Vật chứng được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh theo biên bản giao nhận ngày 19/01/2022.

4/Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5/Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng m t tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao ho c được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ