- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Ph - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về hình phạt: Xử phạt Lê Văn P 10 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S - TP. H ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HSST Ngày 22/02/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S-TP.H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị H.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Ông Thiều Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn P, sinh năm 1978 tại H; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn YT, xã BP, huyện S, thành phố H; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Công chức UBND xã BP; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Con ông Lê Minh N (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1939; Vợ: Nghiêm Thị Q, sinh năm 1983; Con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ 04/01/2022 đến 07/01/2022, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Quý Đ, sinh năm 1992 – Cán bộ Đội điều tra tổng hợp Công an huyện S; Nơi cư trú: Thôn TP, xã MĐ, huyện S, TP H (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn YT, xã BP, huyện S, TP H
- Chị Nghiêm Thị Q, sinh năm 1983 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn YT, xã BP, huyện S, TP H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h00 ngày 04/01/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S cùng Viện KSND huyện S đang tiến hành khám nghiệm hiện trường tại thôn YT, xã BP, huyện S về vụ việc anh Nguyễn Văn Th, sinh 1984, trú tại thôn YT, xã BP, huyện S, H tố giác Lê Văn P, sinh 1976, trú tại thôn YT, xã BP, huyện S, H có hành vi đánh gây thương tích và đập vỡ kính chắn gió bên lái xe ô tô tải BKS 30X - 2511 của anh Th. Khi tổ công tác đang làm nhiệm vụ thì P điều khiển xe ô tô BKS 37A
- 70059 đi vào khu vực hiện trường và dừng, đỗ gây cản trở việc khám nghiệm. Lúc này, đồng chí Nguyễn Quý Đ - Cán bộ điều tra - Đội Điều tra tổng hợp, thuộc Cơ quan CSĐT - Công an huyện S (là thành viên tổ công tác), đã yêu cầu, đề nghị P điều khiển xe ra khỏi hiện trường để tổ công tác làm nhiệm vụ nhưng P không chấp hành, có lời nói chống đối, thách thức. Khi đồng chí Đ tiếp tục giải thích, yêu cầu P đưa xe ra khỏi khu vực hiện trường thì Phúc dùng tay trái túm cổ áo trang phục Công an nhân dân của đồng chí Đ và giằng co. Phúc giơ tay phải định đấm về phía đồng chí Đ thì được mọi người ngăn cản. Sau đó, Phúc tiếp tục có lời nói thể hiện thái độ thách thức, coi thường tổ công tác. Được người nhà can ngăn, P bỏ về nhà lấy 01 con dao (loại dao nhọn) với ý định quay lại hiện trường thì bị Công an xã BP cùng người nhà P can ngăn, lấy lại con dao cất đi và động viên P quay lại hiện trường.Trên đường quay lại hiện trường, P tiếp tục có biểu hiện chống đối nên tổ công tác đã khống chế và đưa về trụ sở làm việc. Quá trình bị khống chế, P không hợp tác, chống đối và tiếp tục túm cổ áo và giơ tay phải định đấm đồng chí Đ thì bị tổ công tác kịp thời ngăn cản, khống chế. Ngay sau đó, P được đưa về trụ sở làm việc.
Tại kết luận định giá tài sản số 25 ngày 24/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện S xác định phần cửa kính xe ô tô tải BKS 30X - 2511 của anh Nguyễn Văn Th bị thiệt hại có trị giá 253.200đ.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/CT-VKS ngày 27/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo Lê Văn P về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai: Ngày 04/01/2022, sau khi đi ăn cỗ về bị cáo điều khiển xe ô tô đi về nhà ở thôn YT, xã BP, huyện S, thành phố H . Khi về đến đầu ngõ dẫn vào nhà thì thấy có 01 chiếc xe ô tô tải đỗ chắn lối đi. Bị áo ấn còi xe và đi tìm lái xe nhưng không thấy. Sau đó thấy anh Th xuất hiện. Giữa bị cáo và anh Th có xảy ra tranh cãi, phát sinh mâu thuẫn, do uống rượu không làm chủ được mình nên bị cáo có đấm anh Th và làm vỡ kính cửa xe ô tô tải của anh Th. Sau đó cơ quan công an đến làm việc thì bị cáo có hành vi giằng co với cán bộ công an trong tổ công tác của công an huyện S. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quý Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 04/01/2022 anh được Ban chỉ huy Đội điều tra tổng hợp giao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Đội kỹ thuật hình sự, Công an xã BP tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc có dấu hiệu của tội Hủy hoại tài sản, Cố ý gây thương tích xảy ra tại thôn YT, xã BP, huyện S, TP H. Khoảng 17h cùng ngày, tổ công tác đang tiến hành khám nghiệm hiện trường thì có 01 chiếc xe ô tô BKS 37A – 700.59 đi đến dừng đỗ tại khu vực hiện trường gây cản trở việc tổ công tác tiến hành khám nghiệm. Sau khi dừng xe, anh Lê Văn P, sinh năm 1976 trú tại thôn YT, xã BP, huyện S, TP H từ phía trong vị trí ghế lái của xe đi ra. Lúc này, anh đã ra giải thích pháp luật cho P biết việc P dừng đỗ xe tại hiện trường gây cản trở tổ công tác không thể khám nghiệm được hiện trường. Tuy nhiên, P không chấp hành việc lái xe ra khỏi hiện trường và có hành vi chửi bới quát to tiếng. Anh tiếp tục yêu cầu P lái xe ra khỏi hiện trường thì bất ngờ P sử dụng tay trái túm cổ áo của anh và định sử dụng tay phải đấm anh nhưng được ngăn cản. Sau đó, P đi bộ về nhà đi ra sân giếng lấy 01 con dao nhọn để đi ra chống đối tổ công tác nhưng được gia đình can ngăn nên bị cáo dừng lại. Sau đó tổ công tác tiến hành khống chế bắt đối tượng về hành vi chống người thi hành công vụ. Quá trình bắt giữ giằng co với đối tượng P anh có bị xe rách áo quân phục, đối tượng dùng tay phải chuẩn bị đấm anh nhưng anh khống chế khóa được tay đối tượng. Anh không bị thương tích hay thiệt hại gì và không yêu cầu bồi thường về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 04/01/2022 anh đỗ xe ô tô nhãn hiệu Chiến Thắng màu xanh BKS 30X – 2511 ở ngõ vào nhà bị cáo P ở thôn YT, xã BP để vào nhà ông Thường để chở cát. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày anh nghe thấy tiếng còi xe ở ngoài ngõ anh có ra ngoài xem thì thấy anh P có hành vi chửi bới anh và dùng tay không đánh vào đầu và ngực anh và dùng chân đá vào hai bên đùi anh. Sau đó có nhiều người đến can ngăn anh đi lên xe ô tô để lùi lại cho xe ô tô của anh P đi vào thì P đi ra chặn xe của anh. Sau đó P đi bộ đến cửa xe bên trái xe ô tô của anh và dùng tay phải đấm 01 cái vào kính cửa xe ô tô của anh khiến cửa xe bị vỡ kính nên anh đã trình báo cơ quan công an. Khi cơ quan công án đến làm việc yêu cầu P lùi xe ra để lực lượng công an vào làm việc. Lúc này anh thấy có 01 đồng chí công an mặc trang phục công an yêu cầu P lùi xe ra thì P không chấp hành mà P còn dùng tay trái túm cổ áo đồng chí công an mặc quân phục, đồng thời có hành vi thách thức. Sau đó P chạy về nhà nhưng anh không đi theo và không được chứng kiến sự việc tiếp theo. Đối với thương tích của anh và thiệt hại của tấm kính xe không đáng kể nên anh không yêu cầu bị cáo P bồi thường. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo P đã ăn năn hối cải đến gia đình anh xin lỗi, anh đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nghiêm Thị Q trình bày: Chị là vợ của bị cáo Lê Văn P. Khoảng 16 giờ ngày 04/01/2022 chị đi làm về thì thấy có cơ quan công an đang đứng làm việc với chồng chị ở đầu ngõ của nhà chị. Lúc này chị thấy xe ô tô nhà chị đang đứng chắn ở ngoài ngõ cổng phía bên trong là 01 xe ô tô tải chở cát đang đỗ. Chị ra thấy có 01 đồng chí công an yêu cầu chồng chị đánh xe ra để làm hiện trường tuy nhiên chồng chị không chấp hành. Chị có nghe chồng chị nói “đường nhà tôi tôi thích làm gì thì làm”. Đồng chí công an tiếp tục yêu cầu chồng chị đánh xe lùi ra và chị có khuyên nhưng chồng chị không nghe vẫn lớn tiếng thách thức. Đồng chí công an có yêu cầu chồng chị về làm việc nhưng chồng chị không chấp hành và có hành vi dùng tay trái túm vào cổ áo của đồng chí công an, chị chạy ra can thì chồng chị bỏ tay ra và xin cho chồng chị về nhà vì anh đang say rượu. Sau khi chồng chị về nhà đang đứng ở sân thì có đồng chí công an vào yêu cầu chồng chị ra làm việc thì chồng chị có lớn tiếng thách thức “chúng mày muốn làm gì thì làm”, chị tiếp tục khuyên chồng chị ra đánh xe ra khỏi hiện trường để các đồng chí công an làm việc. Chồng chị có đi vào bếp cầm 01 con dao thì chị có giằng ra và cất đi. Sau đó chị thấy các đồng chí công an yêu cầu chồng chị về trụ sở công an để làm việc, chị thấy có 01 đồng chí công an người yêu cầu chồng chị lái xe ra bị rách toạc áo sau lưng. Đối với chiếc xe ô tô BKS 37A – 700.59 là xe của vợ chồng chị mua, khi mua bán chị là người đứng tên trên giấy tờ mua bán. Đến nay chị đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S giữ Q công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, thân nhân của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Lê Văn P mức án từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách thừ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao nhọn; trả lại 01 áo khoác trang phục công an nhân dân của đồng chí Nguyễn Quý Đ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16h00 ngày 04/01/2022 tại thôn YT, xã BP, huyện S, thành phố H, Lê Văn P đã không chấp hành yêu cầu của cơ quan công an điều khiển xe ra khỏi hiện trường để tổ công tác làm nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường. Mặt khác, P lại có lời nói chống đối, thách thức. Khi được đồng chí Đ công an huyện S giải thích, yêu cầu P đưa xe ra khỏi khu vực hiện trường thì P dùng tay trái túm cổ áo trang phục công an nhân dân của đồng chí Đ và giằng co đồng thời giơ tay phải định đấm đồng chí Đ thì được mọi người can ngăn. Tuy nhiên, P vẫn tiếp tục có những lời nói thách thức, coi thường tổ công tác. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Lê Văn P về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính. Đồng thời hành vi của bị cáo còn làm mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Năm 2012 bị cáo được Bộ trưởng Bộ y tế tặng bằng khen vì có thành tích trong phong trào hiến máu nhân đạo, năm 2018 được UBND thành phố H và UBND huyện S tặng danh hiệu người tốt việc tốt, năm 2021 được BCH Đảng bộ xã BP tặng giấy khen có thành tích trong công tác Đảng, năm 2006 được Ban chỉ huy quân sự huyện S tặng giấy khen vì có thành tích trong phong trào thi đua quyết thắng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính Q địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đồng chí Nguyễn Quý Đ và anh Nguyễn Văn Th không có yêu cầu đề nghị gì về vấn đề bồi thường dân sự.
Đối với hành vi đánh gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản của Lê Văn P: Do anh Nguyễn Văn Th có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu đề nghị gì và phần hư hỏng tài sản của chiếc xe ô tô có trị giá dưới 2.000.000đ nên hành vi của Phúc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện S ra Quyết định xử phạt hành chính đối với P bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.
Đối với Lê Văn A (con trai của bị can P): Quá trình điều tra do A không thừa nhận hành vi sử dụng dao phóng lợn và do tang vật không thu giữ được nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện S không có căn cứ để xem xét xử lý.
Về vật chứng: Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện S thu giữ 01 con dao, 01 áo khoác trang phục công an nhân dân của đồng chí Nguyễn Quý Đ. Xét thấy con dao không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy, áo khoác là trang phục công an nhân dân nên trả lại cho anh Nguyễn Quý Đ.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về Q kháng cáo: Bị cáo, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan có Q kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về hình phạt: Xử phạt Lê Văn P 10 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã BP giám sát, giáo dục trong thời hạn thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quý Đ và Nguyễn Văn Th không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự.
[3] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao; trả lại anh Nguyễn Quý Đ 01 áo khoác trang phục công an nhân dân. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S).
[4] Về án phí, Q kháng cáo:
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo, chị Nghiêm Thị Q có Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Quý Đ, anh Nguyễn Văn Th có Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan có Q kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến Q, nghĩa vụ của mình./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đương sự; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - Công an huyện S; - TAND thành phố H; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị H |