vanban.org

Bản án 18/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trần Văn M 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 27 tháng 10 năm 2021. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự Căn cứ Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2022/HS-ST
Ngày: 24 - 02 -2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lệ Dung và ông Ngô Gia Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 1 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn M(tên gọi khác: không); sinh năm 1991 tại tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Xóm 5, xã A, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn C1 và bà Trần Thị H. Bị cáo có vợ là Lê Thị Trà M1 và có một con sinh năm 2015

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2021 đến ngày 03/11/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn C1 - sinh năm 1997; trú tại: Xóm 5, xã A, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Minh Đ, anh Nguyễn Văn L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn M là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 2021 M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 35K1 - 42629 từ nhà đến khu vực xã Q, huyện K tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực chợ thuộc xóm 12, xã Q M gặp hỏi và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy tờ lịch có hoa văn với với giá 500.000đ rồi cầm ở tay trái sau đó điều khiển xe đi về nhà. Đến 10 giờ cùng ngày khi M đi đến khu vực Miếu làng Chí Tĩnh thuộc xóm 11, xã H, huyện K thấy vắng người nên M dừng lại định mở gói ma túy ra xem bị tổ công tác Công an huyện K phối hợp với công an xã H đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên tay trái của M 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy tờ lịch có hoa văn, ngoài ra còn thu giữ của M 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 35K1 - 42629 Kiểm tra gói nhỏ nhỏ thu giữ của M bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, cân xác định khối lượng là 0,26 gam , ký hiệu M gửi trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 820/KLGĐ-PC09-MT ngày 02/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,2575 gam là ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 15/CT-VKS - KS ngày 26/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn M về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mưởi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 27/10/2021.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy những vật chứng của vụ án bao gồm:

+ 01phong bì niêm phong ghi số 820/KLGĐ-PC09-MT, bên trong có vật chứng còn lại sau giám định, kí hiệu M có khối lượng 0,1879 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong trên giáp lai có chữ kí của đại diện bên giao, bên nhận đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình.

+ 01 phong bì niêm phong bên trong có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi thu giữ 01 gói nhỏ của Trần Văn M; 01 vỏ gói nhỏ là giấy tờ lịch có hoa văn.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai tại phiên toà của bị cáo Trần Văn M như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản về việc thu giữ và niêm phong vật chứng lập hồi 10 giờ 10 phút ngày 27 tháng 10 năm 2021, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 27 tháng 10 năm 2021, kết luận giám định đồng thời phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ ngày 27/10/2021, tại khu vực Miếu làng Chí Tĩnh thuộc xóm 11, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Trần Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2575 gam Heroin để sử dụng cho bản thân.

Heroin là chất ma túy có số thứ tự 09 thuộc Bảng danh mục I ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2575 gam là loại Heroine của bị cáo M đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

[ 4] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội. Mặt khác hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ ma túy là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và mua bán nhưng vì nhu cầu sử dụng cho bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cai nghiện, học tập thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cũng cần xem xét để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân, mặt khác qua xác minh tại chính quyền địa phương bị cáo không có tài sản riêng và cũng không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Trần Văn M khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ thuộc xóm 12, xã Q, huyện K. Bản thân bị cáo M không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này và nếu có có gặp lại bị cáo cũng không nhận dạng được. Do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh và sử lý .

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 35K1 - 42629 cho em trai bị cáo là anh Trần Văn C do chiếc xe trên là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh C. Việc Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã trả lại 01 xe mô tô trên cho anh Trần Văn C là đúng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Những vật chứng còn lại của vụ án căn cứ vào Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý như sau:

Toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng M = 0,1879 gam Heroin cùng với toàn bộ vỏ bao niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 820/KLGĐ – PC09 - MT cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

01 phong bì niêm phong bên trong có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi thu giữ 01 gói nhỏ của Trần Văn M; 01 vỏ gói nhỏ là giấy tờ lịch có văn hoa cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn Minh phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Xử phạt bị cáo Trần Văn M 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 27 tháng 10 năm 2021.

3.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy những vật chứng của vụ án gồm:

Toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng M = 0,1879 gam Heroin cùng với toàn bộ vỏ bao niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 820/KLGĐ – PC09 – MT.

01 phong bì niêm phong bên trong có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi thu giữ 01 gói nhỏ của Trần Văn M; 01 vỏ gói nhỏ là giấy tờ lịch có hoa văn.

(Chi tiết vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).

4. Về án phí: bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000đ án phí hình sư sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 24/02/2022). người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ