vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 13/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo T N N V, T N N T phạm tội “Giết người”.

Về Hinh pha ̣̀ t: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 18/2022/HS-ST Tuyên án 13/06/2022
Phúc thẩm Bản án 305/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 11/08/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T N N V - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo T N N V, T N N T phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày: 13/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Binh, ông Nguyễn Ngo ̣c Uyên và ông Đinh Công Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Phúc – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. T N N V, sinh ngày: 15/4/1999; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, thị xã Đ, tỉnh P; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; giớ i tinh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T N

́ P, sinh năm 1971 và bà N T X D, sinh năm 1966; có vợ T H H, sinh năm 2001 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/12/2016, bị Công an thị xã Đông Hòa xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; tạm giam ngày 26/01/2022; có mă ̣t.

2. T N N T, sinh ngày: 05/8/2001 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, thị xã Đ, tỉnh P; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giớ i tinh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T N P, ́ sinh năm 1971 và bà N T X D, sinh năm 1966; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giam ngày 26/01/2022; có mă ̣t.

- Người bào chữa của bị cáo T N N V theo yêu cầu của Tòa á n: Ông Trần Ngọc Quỳnh – Luật sư, Văn phòng Luật sư Dân Phúc, thuô ̣c Đoàn Luật sư Phú Yên; có mă ̣t.

- Người bào chữa cho bị cáo T N N T theo yêu cầu của Tò a á n: Ông Ngô Thiên Phương – Luật sư, Văn phòng Luật sư Nhật Khang, thuô ̣c Đoàn Luật sư Phú Yên; có mă ̣t.

- Bị hại: N A T, sinh ngày 07/8/2004. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mă ̣t.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại N A T: Ông N A T1, sinh năm 1983 và bà D, sinh năm 1981. Cùng nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ , tỉnh Phú Yên; là cha me ̣ ruô ̣t của Nguyễn Anh Tuấn; ông Tuất có mă ̣t, bà Dung vắng mă ̣t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. L H T, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ; vắng mă ̣t.

2. N V V, sinh ngày: 26/01/2006. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ; vắng mă ̣t.

- Người đại diện hợp pháp của Ng VV: Bà N T L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ vắng mă ̣t.

3. N T P, sinh ngày: 12/12/2006. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mă ̣t.

- Người đại diện hợp pháp của cháu Phát: Ông N T C, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ; vắng mă ̣t.

- Người làm chứng:

1. L H P, sinh ngày: 15/01/2004. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mă ̣t.

2. N S V, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mă ̣t.

3. N T L, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mă ̣t.

4. N D H, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn H S B, xã H N, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 ngày 23/10/2021, T N N V, T N N T (em ruột của V), N T P, N V V, Lê H Th, L H P ngồi nhậu tại nhà V tại thôn Hảo Sơn Bắc, xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. V nhớ lại trước đây N A T hỏi mượn tiền nhưng V không cho và Tuấn có thái độ hỗn láo với mình nên nói với T “Nó mất dạy với anh, mày có xử nó được không”, T hiểu là V bảo T đánh T1 nên T đồng ý và nói “Được nó nhỏ mà. Để em gọi nó lên”. T sử dụng xe môtô chạy đến nhà T1 chở T1 đến nhà V. Ta ̣i nhà V, T dựng xe ở ngoài sân rồi nói T1 “mất dạy” và dùng tay đánh nhiều cái vào mă ̣t T1, dùng mảnh viên ngói đánh vào đầu Tuấn. V thấy Tuấn đến cũng cha ̣y ra dùng tay đánh nhiều cái vào mă ̣t Tuấn, nhặt 01 viên ngói còn nguyên đánh vào đầu T1, làm viên ngói vỡ thành nhiều mảnh; bi ̣ đánh Tuấn bỏ cha ̣y qua bên hông nhà. V chạy vào nhà lấy cây kiếm Nhật dài 45cm chém mô ̣t nhát trúng tay T1 làm đứ t cơ tam đầu cánh tay phải, mô ̣t nhát trúng vào đinh đầu củ

̉a Tuấn. Thấy vậy, Thiện la ̣i can ngăn giật lấy cây kiếm trên tay V đem giấu còn Anh ôm V đẩy vào nhà không cho đánh T1, nhưng V vẫn tiếp tục hét lên “Kiếm tao đâu, kiếm tao đâu”. Sau đó, Th bảo V chở T1 đi cấp cứu.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 335 ngày 26/10/2021 và Kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 370 ngày 23/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: N A T bị đứt bán cầu phần cơ tam đầu cánh tay phải và vết thương rách da đầu, rách cân màng xương, lộ xương sọ, tỷ lệ thương tích là 08%.

Bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS-P1 ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo T N N V, T N N T về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo T N N V, T N N T vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo T N N V, T N N T phạm tội “Giết người”. Về Hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo T N N V từ 07 năm đến 08 năm tù; bị cáo T N N T từ 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù của các bi ̣ cáo đều tính từ ngày 26/01/2022. Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: - 01 (Mô ̣t) kiếm (Loa ̣i kiếm Nhâ ̣t) dài 45cm, tinh luôn vỏ kiếm dài 50cm; - 05 (Năm)

́

mảnh ngói vỡ bằng đất nung, mảnh lớ n nhất có kich thướ c (25,4 x 17)cm, mảnh

́ nhỏ nhất có kich thướ c (6,9 x 3)cm; - 01 (Mô ̣t) cây gỗ dài 1,31m, ca ̣nh (3,3

́ x1,45)cm; - 01 (Mô ̣t) rựa tự chế bằng kim loa ̣i dài 65cm, phần cán được lồng vào tuýp kim loa ̣i quấn bằng keo màu đen dài 46,5cm, đườ ng kinh 3,2cm; - 01 (Mô ̣t)

́ mảnh ngói vỡ bằng đất nung, kich thướ c (19,5 x 10 x 2,5)cm; Về trách nhiệm bồi

́ thường dân sự: Do gia đình các bị cáo đa tự nguyện hòa giải vã

̀ bồi thườ ng 30.000.000 đồng cho bị hại; bị hại cùng ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp không yêu cầu bồi thường gi thêm, nên không xét.

̀

Các Luật sư Trần Ngo ̣c Quỳnh, Ngô Thiên Phương đều đề nghị Hội đồng xét xử, pha ̣t các bi ̣ cáo mứ c án thấp hơn mứ c án mà Kiểm sát viên đề nghi ̣.

Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của những Người bào chữa cho các bị cáo, giữ nguyên quan điểm. Các bị cáo nói lời sau cùng, đều xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng không bị khiếu nại; việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo T N N V, T N N T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp vớ i lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết quả thực nghiệm điều tra; các bản kết luận giám định, cùng các tài liệu là chứng cứ có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/10/2021, tại nhà T N N V thuộc thôn Hảo Sơn Bắc, xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. T N N V, T N N T thống nhất cùng nhau dùng tay đánh nhiều cái vào mặt; dùng viên ngói, kiếm Nhâ ̣t đánh, chém nhiều cái vào đầu, khủy tay phải của Nguyễn Anh Tuấn; do Tuấn được can ngăn và cấp cứ u, điều tri ̣ ki ̣p thờ i; nên không bị nguy hiểm đến tính mạng, nhưng bị thương tích, tỷ lê ̣ 08%. Chi vỉ mâu thuẫn nhỏ nhă ̣t, viê ̣c V không cho Tuấn mượn tiền, nên có lờ i

̀ nói qua la ̣i từ trướ c, mà các bị cáo đa manh động, ra tay quyết liệt, thể hiện tĩ

nh

́ chất côn đồ. Do đó, bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSPY-P1 ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên đã truy tố các bị cáo T N N V, T N N T về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Các bị cáo T N N V, T N N T là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bản thân các bị cáo cũng nhận thức rõ hành vi dùng viên ngói và kiếm Nhâ ̣t đánh, chém vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của người khác là nguy hiểm có thể dẫn đến hậu quả chết người, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện là bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng của người khác, nên xử phạt nghiêm; trong đó bi ̣ cáo V không chỉ dùng tay, viên ngói đánh vào mă ̣t, đầu bi ̣ ha ̣i như bị cáo Tiến, mà còn đuổi theo dùng kiếm Nhâ ̣t chém vào đầu, khủy tay bị ha ̣i; do đó, hình pha ̣t của bi ̣ cáo V phải cao hơn bi ̣ cáo Tiến. Tuy nhiên, bị cáo V đã từng phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam; sau khi phạm tội các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tác đô ̣ng gia đình bồi thường 30.000.000 đồng cho bi ̣ ha ̣i để khắc phục hậu quả, được bi ̣ ha ̣i cùng đa ̣i diê ̣n hợp pháp của bi ̣ ha ̣i có đơn bai na ̣̃

i xin giảm nhe ̣ hình pha ̣t cho các bi ̣ cáo, là thể hiện sự ăn năn hối cải, các bị cáo được hưở ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiê ̣n áp du ̣ng Khoản 1 Điều 54 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự, đồng thời các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, nên Kiểm sát ̀ viên đề nghi ̣ áp dụng Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt là phù hợp.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Gia đinh các bị cáo đa tự nguyệñ

̀ hòa giải và bồi thườ ng 30.000.000 đồng cho bi ̣ ha ̣i; bi ̣ ha ̣i cùng ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp không yêu cầu bồi thường gi thêm, nên Kiểm sát viên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét

̀

xử không xét là có cơ sở chấp nhâ ̣n.

Về Xử lý vật chứng: - 01 (Mô ̣t) kiếm (Loa ̣i kiếm Nhâ ̣t) dài 45cm, tinh

́ luôn vỏ kiếm dài 50cm; - 05 (Năm) mảnh ngói vỡ bằng đất nung, mảnh lớ n nhất có kich thướ c (25,4 x 17)cm, mảnh nhỏ nhất có kich thướ c (6,9 x 3)cm; - 01 (Mô ̣t) ́

́

cây gỗ dài 1,31m, ca ̣nh (3,3 x1,45)cm; - 01 (Mô ̣t) rựa tự chế bằng kim loa ̣i dài 65cm, phần cán được lồng vào tuýp kim loa ̣i quấn bằng keo màu đen dài 46,5cm, đườ ng kinh 3,2cm; - 01 (Mô ̣t) mảnh ngói vỡ bằng đất nung, kich thướ c (19,5 x 10

́

́ x 2,5)cm. Không có giá tri ̣ sử du ̣ng và không sử du ̣ng được, nên Kiểm sát viên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử ti ̣ch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là có cơ sở chấp nhâ ̣n.

Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Về án phí: Các bị cáo T N N V, T N N T bị kết án phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo T N N V, T N N T phạm tội “Giết người”.

1. Về Hinh pha ̣̀

t: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt:

1.1. Bị cáo T N N V – 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2022.

1.2. Bị cáo T N N T – 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2022.

2. Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: - 01 (Mô ̣t) kiếm (Loa ̣i kiếm Nhâ ̣t) dài 45cm, tinh

́ luôn vỏ kiếm dài 50cm; - 05 (Năm) mảnh ngói vỡ bằng đất nung, mảnh lớ n nhất có kich thướ c (25,4 x 17)cm, mảnh nhỏ nhất có kich thướ c (6,9 x 3)cm; - 01 (Mô ̣t) ́

́

cây gỗ dài 1,31m, ca ̣nh (3,3 x1,45)cm; - 01 (Một) rựa tự chế bằng kim loa ̣i dài 65cm, phần cán được lồng vào tuýp kim loa ̣i quấn bằng keo màu đen dài 46,5cm, đườ ng kinh 3,2cm; - 01 (Một) mảnh ngói vỡ bằng đất nung, kich thướ c (19,5 x 10

́

́ x 2,5)cm.

Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo T N N V, T N N T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo; đa ̣i diện hợp pháp của bi ̣ ha ̣i được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ