- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy C phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Duy C 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 10 năm 2021.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày: 20-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Văn Vô
Ông Đoàn Hồng Hải
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành – Thư ký Toà án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 130/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 157/2021/HSST-QĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Duy C, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: bảo vệ; Học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Minh H; con bà: Lê Thị N; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/7/2009 bị Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 23/5/2013 bị Ủy ban nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời gian 24 tháng; Ngày 16/5/2016 bị Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 21 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2021 (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lâm Quốc V, Văn phòng luật sư VT thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Bị hại: Bà Trần Thị Mỹ P, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 565/56 đường T, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 6 năm 2020, Lê Duy C và bà Trần Thị Mỹ P là đồng nghiệp cùng làm tại nhà hàng YauhauFook, địa chỉ 963-965-967 đường T, Phường F, Quận N (nay là nhà hàng Baoz Dimsum), C làm công việc giữ xe còn bà P làm nhân viên phục vụ. Trong quá trình làm việc chung với bà P, C có phát sinh tình cảm với P, tuy nhiên P không đồng ý và kể lại với nhiều đồng nghiệp khác khiến C thù tức. C nảy sinh ý định trả thù bà P. C lên mạng đặt mua 01 con dao bấm và thuốc diệt cỏ giấu tại nơi C làm bảo vệ tại chung cư L, Quận T chờ ngày trả thù. Khoảng tháng 05 năm 2021, C chuyển đến làm giữ xe tại nhà hàng H, địa chỉ số 412-416 đường P, Phường B1, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 08 giờ ngày 20/5/2021, C đang giữ xe tại nhà hàng H địa chỉ 414-416 đường P, Phường B1, Quận N thì nhìn thấy bà P đi cùng những người bạn đến đây để ăn uống. Lúc này, C nảy sinh ý định trả thù bà P nên C điều khiển mô tô biển số 54L1-4341 về nơi cất giấu dao và thuốc diệt cỏ sau đó lấy bỏ vào hộc bên trái phía trước của xe máy rồi điều khiển xe quay lại nhà hàng mục đích dùng dao đâm bà P sau đó uống thuốc diệt cỏ tự tử. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, khi thấy bà P lấy xe ra về, C điều khiển mô tô biển số 54L1-4341 đi theo, tay trái cầm sẵn dao bấm. Khi bà P đến trước nhà số 418B đường P, Phường B1, Quận N, C ép sát bên phải bà P, C đưa con dao từ tay trái cầm vào lòng bàn tay phải đâm ngang 01 nhát (hướng từ phải sang trái) trúng vào đùi phải bà P, P xuống xe bỏ chạy thì lúc này C cầm con dao đuổi theo và đâm (hướng từ trên xuống dưới) trúng vào lưng trái P rồi điều khiển xe tẩu thoát. Bà P được bà Võ Thị Xuân H (là bạn đi cùng) đang điều khiển xe máy phía sau, chứng kiến sự việc đưa đến bệnh viện Nguyễn Tri Phương cấp cứu.
Trên đường tẩu thoát, C bỏ con dao bấm lại vào trong hộc bên trái, phía trước của xe rồi đến trước cổng số 1 nhà thi đấu T, Phường F, Quận E (cổng đường H) thì dừng lại lấy chai thuốc diệt cỏ ra uống, sau khi uống xong C vứt chai thuốc diệt cỏ vào bãi cỏ lề đường rồi điều khiển xe đi, khi đến trước nhà số 315 đường V, Phường B1, Quận N thì ngã xe bất tỉnh. Lúc này, có ông Thái Văn T (bảo vệ đại lý vé số 315 đường V, Phường B1, Quận N) thấy C bất tỉnh, kiểm tra xe của C thì thấy có 01 con dao bấm và 01 bình xịt hơi cay nên báo Công an Phường B1, Quận N. Sau đó, nhân viên cấp cứu 115 đến chẩn đoán C bị ngộ độc nên đưa vào bệnh viện Nguyễn Tri Phương để chữa trị. Tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, bà H nhìn thấy C chính là người đâm P nên báo Công an giữ C lại, đồng thời sau khi băng bó vết thương, bà P đến Công an Phường B2, Quận N trình báo sự việc. Cùng ngày bà Trần Thị Mỹ P có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Lê Duy C đã khai nhận hành vi dùng dao gây thương tích cho bà P như trên. C khai chỉ muốn đâm bà P gây thương tích để trả thù chứ không có ý định sẽ đâm chết P; khi không được chấp nhận tình cảm từ P, C đã có ý định tự tử nhưng không dám nên lấy việc đâm P gây thương tích để bản thân có can đảm tự tử. Bình kim loại dài 14.5cm dạng bình xịt màu xanh lá cây, trên thân bình có dòng chữ "American Style Nato Super – Paralisant" là do C mua và để trên xe của mình để phòng vệ khi trông giữ xe. Ngày 20/5/2021, C không sử dụng liên quan đến bình xịt này. C một mình thực hiện việc đâm P gây thương tích, không có ai khác cùng tham gia
Tiến hành cho Lê Duy C xác định địa điểm uống thuốc diệt cỏ để tự tử là tại trước cổng số 1 nhà thi đấu P, Phường F, Quận E, tiến hành ra soát không tìm thấy chai thuốc diệt cỏ như C đã nêu.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Utimo màu đỏ, biển số 54L5-4341, có số khung: Y-017657, số máy: 23B1-017657; 01 (một) giấy đăng ký xe số 001333; 01 (một) giấy mua bán xe máy biển số 54L5-4341 ngày 10/4/2020 cửa hàng Bình Mập; 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng hình trụ chữ nhật, có chữ ký đề tên Lê Duy C và dấu mộc tròn của Công an Phường B2, Quận N, bên trong chứa một con dao bấm dài 25cm, cán gỗ màu vàng cam dài 9cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm có mũi nhọn; 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng hình trụ tròn, có chữ ký đề tên Lê Duy C và dấu mộc tròn của Công an Phường B2, Quận N, bên trong chứa một bình kim loại dài 14,5cm dạng bình xịt màu xanh lá cây, trên thân bình có dòng chữ “American Style Nato Super – Paralisant”; 01 (một) ví da màu đen không nhãn hiệu; 01 (một) USB ghi nhận nội dung vụ việc trước nhà 418B đường P, Phường B2, Quận N vào ngày 20/5/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Mỹ P không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 539/TgT.21 ngày 18 tháng 6 năm 2021 của Trung tâm giám định pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích của Trần Thị Mỹ P như sau:
Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo tại vùng lưng trái kích thước 1.5x0.2cm, tại mặt trước 1/3 trên đùi phải kích thước 2.5x(0,1-0,2)cm. Có tỉ lệ 01% (Một phần trăm) mỗi vết. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (Hai phần trăm). Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Con dao bấm có thể gây ra được thương tích trên. Thông tư 22/2019/TT – BYT không quy định về cố tật, tính thẩm mỹ đối với thương tích trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 761/KLGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2021 của Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Y tế kết luận đối với Lê Duy C như sau:
- Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật ngày 20/5/2021 cho đến hiện tại, đối tượng bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.7-ICD10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật ngày 20/5/2021 cho đến hiện tại, đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 07/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Duy C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Duy C về tội: “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Duy C với mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết; về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Luật sư Lâm Quốc V là người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Quận N đã truy tố bị cáo Lê Duy C về tội danh và điều luật áp dụng, người bào chữa nêu một số tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo khi xem xét lượng hình như: Bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cài; phạm tội bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo C với mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Bị cáo Lê Duy C không có ý kiến bổ sung bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Ngoài ra, không có ý kiến tranh luận nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lê Duy C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các bản kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lê Duy C đã dùng con dao bấm là hung khí nguy hiểm đâm vào đùi phải và lưng trái của bà Trần Thị Mỹ P với tổng tỷ lệ thương tích 02% (hai phần trăm). Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Duy C đã dủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét khi phạm tội bị cáo là là người hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, rối loạn nhân cách do sử dụng nhiều loại ma túy. Tuy nhiên, bị cáo có đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hành vi dùng con dao bấm là hung khí nguy hiểm đâm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đối với ý kiến trình bày của người bào chữa nêu một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Utimo màu đỏ, biển số 54L5-4341, có số khung: Y-017657, số máy: 23B1-017657; 01 (một) giấy đăng ký xe số 001333; 01 (một) giấy mua bán xe máy biển số 54L5-4341 ngày 10/4/2020 cửa hàng Bình Mập. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không phải là công cụ, P tiện dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo C.
01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng hình trụ chữ nhật, có chữ ký đề tên Lê Duy C và dấu mộc tròn của Công an Phường B2, Quận N, bên trong chứa một con dao bấm dài 25cm, cán gỗ màu vàng cam dài 9cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm có mũi nhọn; 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng hình trụ tròn, có chữ ký đề tên Lê Duy C và dấu mộc tròn của Công an Phường B2, Quận N, bên trong chứa một bình kim loại dài 14,5cm dạng bình xịt màu xanh lá cây, trên thân bình có dòng chữ “American Style Nato Super – Paralisant”; 01 (một) ví da màu đen không nhãn hiệu. Xét số vật dụng trên bị cáo C dùng vào việc phạm tội và vật dụng không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
01 (một) USB ghi nhận nội dung vụ việc trước nhà 418B đường P, Phường B2, Quận N vào ngày 20/5/2021. Xét đây là chứng cứ ghi nhận lại sự việc phạm tội của bị cáo C, hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Mỹ P không yêu cầu bị cáo Lê Duy C bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Duy C 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 10 năm 2021.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng hình trụ chữ nhật, có chữ ký đề tên Lê Duy C và dấu mộc tròn của Công an Phường B2, Quận N, bên trong chứa một con dao bấm dài 25cm, cán gỗ màu vàng cam dài 9cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm có mũi nhọn; 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng hình trụ tròn, có chữ ký đề tên Lê Duy C và dấu mộc tròn của Công an Phường B2, Quận N, bên trong chứa một bình kim loại dài 14,5cm dạng bình xịt màu xanh lá cây, trên thân bình có dòng chữ “American Style Nato Super – Paralisant”; 01 (một) ví da màu đen không nhãn hiệu.
Trả lại cho bị cáo Lê Duy C: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Utimo màu đỏ, biển số 54L5-4341, có số khung: Y-017657, số máy: 23B1-017657; 01 (một) giấy đăng ký xe số 001333; 01 (một) giấy mua bán xe máy biển số 54L5-4341 ngày 10/4/2020 cửa hàng Bình Mập.
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận nội dung vụ việc trước nhà 418B đường P, Phường B2, Quận N vào ngày 20/5/2021 (Hiên đang lưu theo hồ sơ vụ án).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh)
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận N; - Cơ quan CSĐT Công an Quận N; - Phòng PV 06- Công an TPHCM; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận N; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận N; - Bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |