- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N.V.K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày: 22/02/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
2/ Ông Lê Anh Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:
- Họ và tên: N.V.K;
- Giới tính: Nam;
- Tên gọi khác: không;
- Sinh năm 1997;
- Nơi sinh: Sóc Trăng;
- Nơi cư trú: ấp Phú Thuận, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng;
- Quốc tịch: Việt Nam;
- Dân tộc: Kinh;
- Tôn giáo: công giáo;
- Trình độ học vấn: 08/12; - Nghề nghiệp: buôn bán;
- Cha: N.V.B, sinh năm 1970;
- Mẹ: T.T.K.H, sinh năm 1976;
- Em ruột: có 01 người, sinh năm 2000;
- Bị cáo chưa có vợ, con;
- Tiền án: không.
- Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/9/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ninh Kiều. Có mặt.
Bị hại: Bà V.T.N.N, sinh năm 1990
Địa chỉ: 119 đường số 3, KDC An Khánh, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu tìm nguồn nông sản để bán lại nên chị V.T.N.N dùng tài khoản facebook “V.T.N.N” để đăng tin tìm mua nông sản. Bị cáo N.V.K lên mạng xã hội thì nhìn thấy chị N đăng tin nên nảy sinh ý định lừa bán hàng cho chị N để chiếm đoạt tiền. Ngày 26/8/2021 bị cáo N.V.K sử dụng tài khoản facebook “T.C trái cây” xưng tên “C” chủ động nhắn tin và gởi cho chị N nhiều hình ảnh, thông tin giá cả (K đã chuẩn bị sẵn) liên quan đến các mặt hàng nông sản theo như thông tin chị N cần mua. Quá trình trao đổi qua lại với nhau, chị N đã tin tưởng và đồng ý đặt cọc số tiền 7.100.000 đồng chuyển 02 lần vào tài khoản số 070094597674 tên N.V.K mở tại ngân hàng Sacombank – Phòng giao dịch Thạnh Phú, tỉnh Sóc Trăng để mua số lượng 2,9 tấn rau củ quả gồm: bầu, bí đao, đậu đũa, khổ qua. Chị N thỏa thuận với K (tự xưng là C) sẽ giao hàng vào ngày 28/8/2021 tại địa chỉ số 119 đường số 3, khu dân cư An Khánh, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Sau đó, K (C) không giao hàng theo thỏa thuận nên chị N gọi điện thoại cho K (C) vào các số máy 0774.824.795 và số 0782.974.810 thì bị chặn cuộc gọi và chặn liên lạc tin nhắn facebook. Nghi ngờ mình bị lừa nên chị N đến công an quận Ninh Kiều trình báo.
Quá trình xác minh tài khoản ngân hàng, số điện thoại, các tài liệu chứng cứkhác xác định bị cáo N.V.K là đối tượng nghi vấn thực hiện vụ lừa đảo nêu trên nên tiến hành mời K làm việc.
Tại cơ quan điều tra, N.V.K thừa nhận hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể: từ tháng 5/2021 K lập tài khoản facebook “T.C trái cây”, tự xưng tên “C” đăng bán các mặt hàng nông sản để tìm người có nhu cầu mua nông sản, sau khi tìm được người mua hàng K sẽ yêu cầu họ đặt cọc trước tiền mua hàng và chuyển vào tài khoản Ngân hàng Sacombank số 070094597674 của K. Sau khi nhận được tiền thì K rút tiền tại các trụ ATM và chặn liên lạc với họ. Với phương thức trên, K đã lừa được nhiều người ở nhiều tỉnh thành khác nhau như: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Long An, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Đăk Lăk. Riêng tại Cần Thơ, K thừa nhận lừa bán hàng cho chị N chiếm đoạt số tiền 7.100.000đồng tiêu xài cá nhân.
Vật chứng thu giữ được:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu trắng gắn sim 0774.824.795;
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y12S 2021 màu xám gắn sim 0782.974.810;
- 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank tài khoản 070094597674 tên NGUYEN VAN KHOI;
Như vậy, bị cáo N.V.K đã chiếm đoạt của chị V.T.N.N số tiền là 7.100.000đồng.
Đối với hành vi của bị cáo thực hiện đối với các bị hại ở các tỉnh thành: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Long An, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Đăk Lăk…do bị cáo khai không nhớ rõ thời gian và thông tin về bị hại cụ thể. Cơ quan điều tra đã thông báo tìm bị hại và thông báo đến các địa phương để tiếp tục xác minh.
Về trách nhiệm dân sự: chị N yêu cầu bị cáo trả số tiền 7.100.000đồng, gia đình bị cáo đã tự nguyện giao nộp khắc phục 7.100.000đồng. Cơ quan điều tra đã xử lý trao trả cho chị N, bị hại đã nhận xong và không có yêu cầu gi khác.
Bản Cáo trạng số 14/CT-VKSNK ngày 05/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo N.V.K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến bào chữa và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại đã được Tòa án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai và bị hại cũng đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên xét xử vắng mặt bị hại theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo N.V.K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bị cáo K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả nên xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do đó, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174 điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo N.V.K từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu trắng gắn sim 0774.824.795 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y12S 2021 màu xám gắn sim 0782.974.810. Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank tài khoản 070094597674 tên NGUYEN VAN KHOI.
- Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo đã giao nộp số tiền 7.100.000đồng để khắc phục hậu cho chị V.T.N.N đề nghị Hội đồng xét xử công nhận và bị hại cũng không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Căn cứ vào tình tiết vụ án, xét thấy: bị cáo lên mạng xã hội thấy chị V.T.N.N đăng tin tìm mua nông sản nên ngày 26/8/2021 bị cáo K sử dụng tài khoản facebook “T.C trái cây” xưng là C chủ động nhắn tin và gởi cho chị V.T.N.N nhiều hình ảnh, thông tin giá cả liên quan đến các mặt hàng nông sản mà chị N cần mua. Sau khi trao đổi qua lại, thống nhất giá cả chị N tin tưởng đồng ý đặt cọc số tiền 7.100.000đồng chuyển 02 lần vào tài khoản Ngân hàng Sacombank số 070094597674 của bị cáo và thỏa thuận bị cáo sẽ giao 2,9 tấn rau củ quả tại nhà của chị N (số 119 đường số 3, khu dân cư An Khánh, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ). Sau khi nhận được tiền bị cáo không giao hàng theo thỏa thuận, chặn cuộc gọi và tin nhắn facebook với chị N.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lên mạng xã hội facebook lập tài khoản “T.C trái cây” tự xưng là C để tìm người có nhu cầu mua nông sản, khi nhận được tiền đặt cọc mua hàng chuyển vào tài khoản của bị cáo tại Ngân hàng Sacombank thì bị cáo sẽ chặn liên lạc với họ và ra các trụ ATM để rút tiền.
Như vậy, hành vi gian dối mạo danh người bán nông sản trên mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là 7.100.000đồng của bị cáo N.V.K đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ.
Đối với hành vi của bị cáo thực hiện đối với các bị hại ở các tỉnh thành: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Long An, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Đăk Lăk…do bị cáo khai không nhớ rõ thời gian và thông tin về bị hại cụ thể. Cơ quan điều tra đã thông báo tìm bị hại và thông báo đến các địa phương để tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo cũng đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai ông nội là liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp, tuy nhiên trong hồ sơ không thể hiện chứng cứ này và gia đình bị cáo không cung cấp giấy xác nhận nên Hội đồng xét xử không thể xem xét cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo K là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe, có học vấn nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối tạo niềm tin cho bị hại chuyển tiền vào tài khoản để chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục giúp bị cáo thay đổi nhận thức sống, biết đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đe, trấn áp những tội phạm tương tự. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho bị cáo. Vì vậy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự do bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo N.V.K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo N.V.K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2021.
- Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu trắng gắn sim 0774.824.795 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y12S 2021 màu xám gắn sim 0782.974.810. Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank tài khoản 070094597674 tên NGUYEN VAN KHOI.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo N.V.K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật) lên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - VKSND Q.Ninh Kiều; - VKSND Tp.Cần Thơ; - CQCSĐT Công an Q.Ninh Kiều; - Nhà tạm giữ Công an Q.Ninh Kiều; - Chi cục THADS Q.Ninh Kiều; - Tòa án nhân dân Tp.Cần Thơ; - Sở Tư pháp Tp.Cần Thơ; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Thanh Hương Lê Anh Khoa | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huyền Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Trang |