vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imei 1: 861438053620555, bên trong có gắn sim số 0972817281, mặt kính trước bị rạn nứt (đã qua sử dụng không kiểm t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN HẢI Đ - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày: 28-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thân;

2. Ông Trần Văn Tảo.

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1986 tại tỉnh N; nơi cư trú: Số 16 đường T, khu phố X, Phường Y, thành phố N, tỉnh N; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí B và bà Nguyễn Thị Kim C; bị cáo có vợ tên Trần Thị Thúy A (đã ly hôn) và có 01 người con; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án số 11/2007/HSST ngày 29/01/2008 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh N xử phạt Nguyễn Hải Đ 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, khấu trừ thời gian tạm giam, thời gian thử thách là 44 (bốn mươi bốn) tháng 08 (tám) ngày, đã chấp hành xong hình phạt chính, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xóa án tích; tiền sự: không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2021 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 9/2021, Nguyễn Đức K, sinh năm 2003, ngụ Thôn A, xã T, huyện N, thành phố P và Nguyễn Thanh P, sinh năm 1990, ngụ số 3/54 đường T, phường Đ, quận Q, thành phố P lên mạng xã hội Facebook tìm việc thì được một công ty ở Campuchia tuyển dụng làm nhân viên chăm sóc khách hàng. Đến ngày 07/9/2021, một người phụ nữ sử dụng tài khoản Facebook tên “Thủy Tiên” và một người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo chữ Trung Quốc thuê xe đưa K và P đến khách sạn M thuộc khu phố T, phường N, tỉnh N để chờ xuất cảnh trái phép qua Campuchia.

Đến ngày 11/9/2021, Nguyễn Trường K, sinh năm 1987, ngụ số B hẻm A, khu phố X, Phường Y, thành phố N, tỉnh N được một người tên T không xác định nhân thân, lai lịch thuê chở khách, lúc này K không biết T tìm tài xế chở khách xuất cảnh trái phép sang Campuchia. K giới thiệu Nguyễn Hải Đ đang làm nghề tài xế chở khách cho T, K đưa số điện thoại 0909537878 của T cho Đ để Đ liên lạc thỏa thuận về việc chở khách. Sau đó, Đ liên lạc với T thì được T thuê chở 02 người khách từ khách sạn M đến khu vực Cứ 24 thuộc xã L, huyện B, tỉnh N giao cho người đàn ông sử dụng số điện thoại +855977183811 với tiền công 1.000.000 đồng thì Đ đồng ý, khi nào Đ giao người xong T sẽ chuyển tiền cho K để giao lại cho Đ.

Đến 15 giờ cùng ngày, Đ thuê xe ô tô biển số 70A-238.11 của Nguyễn Tấn T, sinh năm 1995, ngụ khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh N làm P tiện đi đón khách. T không biết Đ thuê xe ô tô để chở người đi xuất cảnh trái phép qua Campuchia. Sau đó, Đ điều khiển xe ô tô đến khách sạn M để đón Nguyễn Đức K và Nguyễn Thanh P, trên đường đi có người đàn ông không xác định nhân thân lai lịch sử dụng số điện thoại 0932025645 giới thiệu là người của T chỉ đường cho Đ đến khu vực Cứ 24.

Đến 16 giờ ngày 11/9/2021, tại khu vực biên giới thuộc ấp Tân T, xã L, huyện B, tỉnh N, Nguyễn Hải Đ đang điều khiển xe ô tô biển số 70A-238.11 chở Nguyễn Đức K và Nguyễn Thanh P để đưa xuất cảnh trái phép sang Campuchia thì bị Công an huyện Tân Biên kiểm tra P hiện và lập biên bản vi phạm hành chính. Ngày 16/9/2021, Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây Ninh.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hải Đ đã thành khẩn khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đ đã lợi dụng tình trạng dịch bệnh Covid-19 để phạm tội.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imei 1: 861438053620555, bên trong có gắn sim số 0972817281, mặt kính trước bị rạn nứt (đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng sim) của bị cáo Nguyễn Hải Đ.

+ 01 (một) xe mô tô Mazda 3 màu trắng, biển số 70A – 238.11, số máy: P520637639, số khung: RN2B14AA6KM023259 (có chìa khóa kèm theo); 01 giấy chứng nhận Đ ký xe ô tô biển số 70A – 238.11, số 038348 (bản sao); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 1900 – 558891 (bản gốc); 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 70A – 238.11, số KD 1176053 (bản gốc); 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng VIB ngày 03/3/2021, số 9473031.20/VIB (bản gốc).

- Kết quả xử lý vật chứng: tại quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ-ANĐT ngày 28/10/2021 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây Ninh quyết định trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1995; nơi cư trú: khu phố L, phường T, thành phố N, tỉnh N các tài sản gồm: 01 (một) xe mô tô Mazda 3 màu trắng, biển số 70A – 238.11, số máy: P520637639, số khung: RN2B14AA6KM023259 (có chìa khóa kèm theo); 01 giấy chứng nhận Đ ký xe ô tô biển số 70A – 238.11, số 038348 (bản sao); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 1900 – 558891 (bản gốc); 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 70A – 238.11, số KD 1176053 (bản gốc); 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng VIB ngày 03/3/2021, số 9473031.20/VIB (bản gốc).

* Kết quả kê biên tài sản: Nguyễn Hải Đ không có tài sản riêng nào giá trị nên không tiến hành kê biên.

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSTB, ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hải Đ về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Đ phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, l khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hải Đ.

Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imei 1: 861438053620555, bên trong có gắn sim số 0972817281, mặt kính trước bị rạn nứt (đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng sim) của bị cáo Nguyễn Hải Đ.

Bị cáo Nguyễn Hải Đ thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: do bị cáo thiếu hiểu biết quy định của pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về chăm lo cho con của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: vào ngày 11/9/2021, Nguyễn Hải Đ lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid – 19 đã tổ chức đưa 02 người gồm Nguyễn Đức K, Nguyễn Thanh P xuất cảnh trái phép từ Việt Nam qua Campuchia để nhận tiền công 1.000.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh P hiện. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Hải Đ đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKSTB ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố với bị cáo Nguyễn Hải Đ và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của Nguyễn Hải Đ là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh được pháp luật hình sự bảo vệ; làm giảm hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh.

Bị cáo là Nguyễn Hải Đ người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần P triển bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức và biết rõ hành vi đưa người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, dẫn đến nguy cơ làm lây lan dịch bệnh, gây ảnh xấu đến trật tự trị an vùng biên giới Việt Nam – Campuchia, nhưng vì mục đích thu lợi bất chính bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

5.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Hải Đ đã bị kết án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm” và bị cáo lợi dụng dịch bệnh để phạm tội, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại các điểm h, l khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

5.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Hải Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo Nguyễn Hải Đ không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Thanh P và Nguyễn Đức K có hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định, Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với người đàn ông tên T sử dụng số điện thoại 0909537878 thuê Nguyễn Hải Đ chở Nguyễn Thanh P và Nguyễn Đức K xuất cảnh trái phép, quá trình xác minh xác định chủ số điện thoại này là Nguyễn Trọng T, sinh năm 1981, ngụ số 33/1D Nguyễn Thái S, Phường Y, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh và người đàn ông sử dụng số điện thoại 0932025645 là người của T chỉ đường đi cho Nguyễn Hải Đ, quá trình xác minh, xác định chủ số điện thoại này là Lê Hữu P, sinh năm 1987, ngụ số 34, Đường L, phường C, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình ủy thác điều tra xác định không có người tên Lê Hữu P tại địa chỉ trên và người tên T không có mặt ở địa P, chưa mời làm việc được, nên khi nào làm việc được có căn cứ Cơ quan điều tra sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại +855977183811, người phụ nữ sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Thủy Tiên” và người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo chữ Trung Quốc do không xác định nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào xác định được thì Cơ quan điều tra sẽ xử lý sau.

Xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imei 1: 861438053620555, bên trong có gắn sim số 0972817281, mặt kính trước bị rạn nứt (đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng sim) của bị cáo Nguyễn Hải Đ là công cụ, P tiện bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Hải Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, l khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imei 1: 861438053620555, bên trong có gắn sim số 0972817281, mặt kính trước bị rạn nứt (đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng sim) của bị cáo Nguyễn Hải Đ.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2022).

3. Về án phí: căn cứ các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Nguyễn Hải Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Hải Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ