- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tấn H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày 23/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Hào;
Bà Võ Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Tấn H, sinh ngày 02/02/1991 tại tỉnh Bình Dương. Nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn PV, huyện PG, tỉnh Bình Dương (tạm trú: Khu phố 7, thị trấn PV, huyện PG, tỉnh Bình Dương); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (chết) và bà Mai Ngọc V, sinh năm 1963; tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Ngày 21/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia”, 01 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” và 01 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2009/HSST ngày 21/01/2009 (Đã được xóa án tích).
Ngày 16/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 52/2014/HSST ngày 16/7/2014 (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2022 đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Quyết T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp BT, xã AB, huyện PG, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/12/2021, Trần Tấn H một mình đi bộ từ phòng trọ tại khu phố 7, thị trấn PV, huyện PG, tỉnh Bình Dương cầm theo ná để đi bắn chim. Khi H đi đến quán “Hẻm nướng BB”, H quan sát thấy ông Lê Quyết T đang ngủ trong quán, quán không có cửa chỉ có lưới rào B40 nên H nảy sinh ý định đột nhập vào quán trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. H lén lút đi vào trong quán và thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu đen đang để trên bàn bên cạnh giường ông T đang ngủ, H lén lút lấy chiếc điện thoại giấu vào túi quần đang mặc và nhanh chóng rời khỏi quán, đồng thời tắt nguồn điện thoại. Sau đó H bỏ chiếc điện thoại vào bịch ni long màu vàng rồi đem chiếc điện thoại đem cất giấu tại căn nhà hoang của Nguyễn Đăng K thuộc khu phố 7, thị trấn PV, huyện PG, tỉnh Bình Dương. Sau khi sự việc xảy ra ông Lê Quyết T trình báo công an thị trấn PV, huyện PG, tỉnh Bình Dương. Quá trình điều tra Trần Tấn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận định giá tài sản ngày 07/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu đen, số máy NWGF2LL/A, số sêri: FK1DF231N70C, dung lượng 64GB có giá 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Cáo trạng số 20/CT-VKSPG ngày 21/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Trần Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo H: Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Tấn H từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Quyết T đã nhận lại tài sản là điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu đen và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng: Đã giải quyết xong.
Tại phiên tòa bị cáo H cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/12/2021, bị cáo Trần Tấn H đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, số máy NWGF2LL/A, số seri: FK1DF231N70C, dung lượng 64GB của bị hại Lê Quyết T có giá là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Như vậy, Cáo trạng số 20/CT-VKSPG ngày 21/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Trần Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã thực hiện tội phạm mà không nghĩ đến sự trừng phạt của pháp luật. Về nhân thân: Ngày 21/01/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia”, 01 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” và 01 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2009/HSST ngày 21/01/2009. Ngày 16/7/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 52/2014/HSST ngày 16/7/2014. Bị cáo đã được học tập, cải tạo nhưng bị cáo vẫn không biết hối cải mà tiếp tục có hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, sớm nhận ra lỗi lầm của mình, an tâm cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, về trách nhiệm dân sự, về vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Quyết T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, số máy NWGF2LL/A, số sêri: FK1DF231N70C, dung lượng 64GB đã được trả lại cho bị hại ông Lê Quyết T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tấn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Quyết T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tấn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Phú Giáo; - Công an huyện Phú Giáo; - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Khoa |