vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH H H CH MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày: 21/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Ông Dương Văn Quí

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 218/2021/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:

Tất Kiếm L - sinh năm: 1990 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: A, Phường R, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Tất N và bà Trần Thị Ngọc T; Bị cáo không có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Bị Toà án nhân dân Quận 12 , Tp.Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 127/QĐ-TA ngày 11/4/2016, đến ngày 16/8/2017 chấp hành xong; năm 2019 bị Toà án nhân dân Quận 12, Tp.Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 172/QĐ-TA ngày 22/02/2019, đến ngày 09/6/2020 chấp hành xong; Bị cáo bị bắt ngày 28/12/2020, bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Lê Thị Kim V - sinh năm: 1997 tại: Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Thường trú: Không có đăng ký; Chỗ ở hiện nay: Sống lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Mạnh H và bà Phạm Thị Thanh X; Bị cáo chưa có chồng con; Tiền án: Không; Tiền sự: Năm 2018, bị Toà án nhân dân Quận 12, Tp.Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, theo Quyết định số 393/QĐ-TA ngày 16/7/2018, đến ngày 17/4/2019 chấp hành xong; Bị cáo bị bắt ngày 18/12/2020, bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác: Không có.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 13 giờ 00 phút ngày 18/12/2020 tại nhà trọ số C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hóc Môn và Công an xã Thới Tam Thôn kiểm tra hành chính phòng trọ số 20, lúc này trong phòng có Lê Thị Kim V, Tất Kiếm L, Trần Công Đ và Đỗ Thị Tuyết M. Trong lúc kiểm tra, V tự nguyện giao nộp 09 gói nyL chứa tinh thể không màu (m1) được để trong hộp thiếc màu xanh bên ngoài có chữ Mentos và 01 bình nhựa nắp màu đỏ trên nắp có gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh đầu tròn dính bụi màu nâu (m2) .

Tại Cơ quan điều tra, L và V khai nhận: Cả hai chung sống như vợ chồng tại phòng trọ trên do L thuê. Cả hai nghiện ma túy nên thường hùn tiền mua ma túy để sử dụng chung. Ngày 13/12/2020, V mua 01 gói ma túy đá của H (là bạn của L, không rõ lai lịch) với giá 700.000 đồng, sau đó V phân ra thành 12 gói nhỏ, bỏ vào trong 01 hộp kim loại màu xanh bên ngoài ghi chữ Mentos cất giấu vào thùng giấy đựng quần áo của mình. Đến khoảng 22 giờ 00 ngày 17/12/2020, lúc này trong phòng có M và Đ (là bạn của V và L) thì H đến chơi và có đem ma túy đá ra bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (của V mua) rồi sử dụng cùng với V, L và M rồi H đi về. Khi hết ma túy thì V tiếp tục lấy ma túy do V mua trước đó của H cho cả bọn (V, L, M) sử dụng tiếp. Đến khoảng 13 giờ 25 phút ngày 18/12/2020, Công an xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn phát hiện bắt quả tang L, V, M như đã nêu trên. Riêng Trần Công Đ không có sử dụng ma túy tại nhà trọ số C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H. M khai nhận: V, L đã 03 (ba) lần cho M sử dụng ma tuý miễn phí tại phòng trọ của L, trong đó có một lần vào ngày 15/12/2020 và một lần vào ngày 17/12/2020 phù hợp với lời khai của L, V. L và V thừa nhận ma túy cho M sử dụng trước đó là của L và V mua chung với nhau, riêng ma túy sử dụng ngày 17/12/2020 là do V mua của H bằng tiền của mình và cất giấu tại nhà trọ số C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H và L không biết việc này.

Tại Bản kết luận giám định số 119/KLGĐ-H ngày 25/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,1875g, loại Methamphetamine.

+ Gói 2: Chất rắn màu nâu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết. (BL 141)

Vật chứng thu giữ:

+ 02 gói niêm phong số 58.

+ 01 bình nhựa nắp màu đỏ trên nắp có gắn ống hút nhựa.

+ 01 hộp kim loại có chữ Mentos;

+ Thu của V: 01 thùng carton có 05 bộ quần áo nữ, 02 điện thoại di động hiệu Sam sung và ML.

+ Thu của L: 01 điện thoại di động hiệu Huawei.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn, V và L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-HS ngày 28/7/2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố bị cáo Lê Thị Kim V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự), truy tố bị cáo Tất Kiếm L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội đồng thời nêu lên tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Kim V từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tất Kiếm L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong ghi vụ 58, 01 bình nhựa nắp màu đỏ trên nắp có gắn ống hút nhựa, 01 hộp kim loại có chữ Mentos, 01 thùng cartong bên trong có 05 bộ quần áo nữ; Đề nghị trả lại cho V 01 điện thoại di động hiệu Sam sung và 01 điện thoại di động hiệu ML (đã qua sử dụng), trả lại cho L 01 điện thoại di động hiệu Huawei (đã qua sử dụng).

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin được giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc kH nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Lê Thị Kim V, Tất Kiếm L phù hợp với các vật chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án và phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận vào ngày 18/12/2020, Lê Thị Kim V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 3,1875g, loại Methamphetamine. Ma túy này do V mua bằng tiền của mình và cất giấu tại nhà trọ số C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H và L không biết V cất giấu số ma túy này tại đây. Hành vi của V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Lê Thị Kim V cùng Tất Kiếm L sống với nhau như vợ chồng tại nhà trọ số C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H do L thuê. L và V đã sử dụng nhà thuê làm địa điểm để cùng sử dụng ma túy với Đỗ Thị Tuyết M nhiều lần, trong đó có một lần vào ngày 15/12/2020 và một lần vào ngày 17/12/2020. V là người chuẩn bị ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy. L biết rõ nguồn gốc ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy là của V chuẩn bị và bản thân L cũng cùng V cung cấp ma túy (ngoài lần vào ngày 17/12/2020), địa điểm cho cả nhóm (gồm L, V và Đỗ Thị Tuyết M) sử dụng ma túy. Hành vi của L và V là đồng phạm với nhau và đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tai Điều 255 Bộ luật hình sự. L và V tổ chức sử dụng trái phép ma túy từ hai lần trở lên và tính đến thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi lần cuối (ngày 17/12/2020) thì Đỗ Thị Tuyết M (sinh ngày 28/12/2003) là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử các bị cáo theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. Ngoài ra, Trần Công Đ không có sử dụng ma túy tại nhà trọ số C Tổ S, ấp T, xã Th, huyện H nên không có căn cứ để xử lý, còn H chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh xử lý sau.

[3] Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2] Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nh một phần hình phạt cho các bị cáo.

[3.3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận định các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Ông Hồ Văn T là người cho L thuê nhà trọ nhưng ông Thanh không biết gì về các hành vi nêu trên của L, V nên không xem xét trách nhiệm hình sự của ông T.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với 02 gói niêm phong ghi vụ 58, 01 bình nhựa nắp màu đỏ trên nắp có gắn ống hút nhựa, 01 hộp kim loại có chữ Mentos, 01 thùng cartong bên trong có 05 bộ quần áo nữ: Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam sung và 01 điện thoại di động hiệu ML (đã qua sử dụng) thu giữ của V, và 01 điện thoại di động hiệu Huawei (đã qua sử dụng) thu giữ của L: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định trả lại cho các bị cáo.

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/12/2020.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Tất Kiếm L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tất Kiếm L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 28/12/2020.

2. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong ghi vụ 58, 01 bình nhựa nắp màu đỏ trên nắp có gắn ống hút nhựa, 01 hộp kim loại có chữ Mentos, 01 thùng cartong bên trong có 05 bộ quần áo nữ.

Trả lại cho bị cáo Lê Thị Kim V 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu ML (đã qua sử dụng).

Trả lại cho bị cáo Tất Kiếm L 01 điện thoại di động hiệu Huawei (đã qua sử dụng)

(Các đồ vật trên được ghi theo Biên bản giao nhận, nhận vật chứng ngày 18/5/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ