- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Ngô Anh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -Bản án số: 18/2022/HS-ST -Ngày: 19/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA A NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài;
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hoàng Hoa
2. Ông Nguyễn Hoa Kiều
* Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Kim Cương Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Ngọc Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đối với bị cáo:
NGÔ ANH A, sinh ngày 17/3/1993 tại tỉnh Tiền Giang. Số chứng minh nhân dân số 312151517 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp. Nơi cư trú: ấp M1, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Ngô Văn A1 và bà Đỗ Thị Hồng A2. Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Vợ: Đào Thị Ngọc A3. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2017. Tiền sự: 02 lần. Ngày 31/12/2020, Ủy ban nhân dân xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định số 32/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 31/3/2021. Ngày 25/02/2021, Công an xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng tại quyết định số 167/QĐ-XPHC, bị cáo đã nộp phạt ngày 02/3/2022. Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện Chợ Gạo đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Nguyễn Phi B, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thúy C, sinh năm 1969. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 03/8/2021, Ngô Anh A đi bộ từ nhà đến nhà anh Phạm Thành D, sinh năm 1988, địa chỉ: ấp M3, xã N để làm thuê. Khi đi tới nhà anh Nguyễn Phi B do mệt nên khi thấy xe đạp hiệu Hitasa, màu trắng của anh B đang dựng bên trong hiên nhà không có ai trông coi nên A nảy sinh ý định lấy xe của anh B để đi đến nhà của Ngân.
Để thực hiện ý định lấy trộm xe, A leo hàng rào vào bên trong nhà lấy xe đạp điều khiển xe chạy đi. Khi đi ngang qua nhà của chị Nguyễn Thúy C, A phát hiện nhà chị C có tủ lạnh nghĩ có nước uống nên A leo rào vào bên trong mở tủ lạnh lấy chai nước uống thì bị chủ nhà phát hiện nên A bỏ lại xe đạp và đôi dép chạy thoát. Sự việc sau đó bị phát hiện và A bị bắt giữ.
Theo kết luận định giá tài sản số 82/KL-ĐGTS ngày 12/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: “01(một) xe đạp đầm, nhãn hiệu Hitasa, màu trắng, thời hạn sử dụng 03 năm. Trị giá:560.000 đồng”.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSCG ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Ngô Anh A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Chợ Gạo giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô Anh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Anh A mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường về dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị C không yêu cầu bị cáo bồi thường 01 chai nước sâm đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép kẹp màu đen của Ngô Anh A bỏ lại khi bị truy đuổi.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng, bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do. Nhận thấy, việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Do có ý định trộm cắp tài sản để sử dụng nên A đã lén lút leo rào vào bên trong nhà của bị hại để lấy trộm 01 xe đạp đầm, nhãn hiệu Hitasa, màu trắng, trị giá 560.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Xét thấy, mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm được chỉ 560.000 đồng nhưng bị cáo có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra, do đó lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.
Vì vậy Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.
[5] Tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình cho quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng lại không biết tu chí làm ăn lương thiện lại lười lao động. Để phục vụ mục đích của bản thân, bị cáo đã lợi dụng lúc đêm khuya, bị cáo lén lút leo rào vào bên trong nhà của anh Nguyễn Phi B để lấy trộm 01 xe đạp đầm, nhãn hiệu Hitasa, màu trắng, trị giá 560.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho mọi người.
Riêng đối với hành vi bị cáo leo rào vào nhà bà Nguyễn Thị Thúy C mở tủ lạnh lấy 01 chai nước sâm uống thì bị phát hiện; chai nước sâm do bà C tự nấu, bị cáo đã uống hết chai nước không thể định giá nên không xác định được giá trị, bà C không yêu cầu định giá cũng như không yêu cầu bồi thường chai nước sâm do đó không truy cứu trách nhiệm của bị cáo đối với hành vi trộm chai nước sâm này.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
+ Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án nhưng có 02 tiền sự như nêu trên do đó, Hội đồng xét xử có xem xét và cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
+ Đồng phạm: Vụ án này không có đồng phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn, đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không dặt ra xem xét. Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, trường hợp sau này có yêu cầu bồi thường sẽ giải quyết ở vụ án khác.
[9] Về vật chứng: Đối với 01 đôi dép kẹp màu đen của Ngô Anh A bỏ lại khi bị truy đuổi. Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Xét ý kiến Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
+ Về tội danh, mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với hành vi, vai trò, nhân thân thân của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc khi nghị án.
+ Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
+ Về trách nhiệm hình sự: Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[13] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Ngô Anh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017
* Xử phạt bị cáo Ngô Anh việt 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2022.
2/ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép kẹp màu đen.
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Anh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyeän Chợ Gạo; - Cc. THADS huyện Chợ Gạo; - Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại...; - Löu hoà sô, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Văn Tài |