vanban.org

Bản án 18/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2021/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2021/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-PT
Ngày: 25-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Luông

Ông Lê Quân Vương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 235/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Đức H. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 150/2021/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đức H sinh năm 1986 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: tổ 3, khu phố 8, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: phụ xe; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Kim D; có vợ tên Trần Bích N và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H: Ông Nguyễn Văn H4 – Luật sư Chi nhánh Công ty Luật T1 tại Bình Dương thuộc Đoàn L Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị H3 là vợ chồng. Bà H3 là chị của ông Nguyễn Văn H4. Nguyễn Đức H là con ruột của H4 nên gọi bà H3 bằng cô và ông K bằng dượng. Gia đình của bà H3 và H4 có mâu thuẫn với nhau trong việc tranh chấp đất thừa kế.

Khoảng 16 giờ ngày 05/10/2020, bà H3 đến nhà H4 nói chuyện và cự cãi với H4 về nguồn gốc đất hai bên đang tranh chấp, sau đó bà H3 đi về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H đi làm về nghe vợ là bà Trần Bích N kể lại sự việc H4 và bà H3 cãi nhau. H bực tức đi ra sau nhà lấy 01 dao rựa dùng để phát cỏ bờ dài 1,5 mét cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại và đi bộ sang nhà của bà H3 để tìm bà H3 nói chuyện. Khi đến nơi H gặp ông K đang ngồi trông giữ cháu trên tấm phản bằng gỗ ở hiên nhà. H hỏi ông K bà H3 đâu, ông K trả lời bà H3 đi công việc. Do không gặp được bà H3 nên H cầm dao rựa đập một cái vào cửa chính bằng kính của nhà ông K làm vỡ 01 tấm kính cửa kích thước 134cm x 67cm x 0,5cm. Sau đó, H đi lại gần vị trí ông K đang ngồi và nói khi nào bà H3 về thì nhắn đến nhà gặp H, đồng thời H đổi vị trí đang cầm rựa bằng tay p H sang tay trái và đổi vị trí cầm dao rựa bằng lưỡi dao, đưa phần cán dao rựa ra ngoài đánh 01 cái từ trên xuống theo hướng từ trái qua p H trúng vào chân trái của ông K rồi cầm dao rựa đi về. Ông K gọi điện thoại trình báo sự việc đến Công an phường U. Ngày 06/10/2020, ông K đi khám và điều trị thương tích tại Trung tâm y tế thị xã T. Ngày 14/10/2020, ông Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/2021/GĐPY ngày 15/01/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tỉnh Bình Dương kết luận ông Nguyễn Văn K có thương tích: Gãy kín đầu trên xương chày trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 110 ngày 20/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 tấm kính kích thước 134cm x 67cm x 0,5cm, màu nâu trong, tại thời điểm bị thiệt hại có giá trị 400.000 đồng (bốn trăm nghìn) đồng.

Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn K và người làm chứng khai nhận nội dung vụ án phù hợp với lời khai nhận của bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự: Ông Nguyễn Văn K xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Đức H.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 150/2021/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02 tháng 11 năm 2021, bị cáo Nguyễn Đức H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: bị cáo kháng cáo đúng thời gian quy định nên tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo kháng cáo xin dược hưởng án treo. Xét thấy bị cáo và bị hại K không có mâu thuẫn với nhau nhưng bị cáo vô cớ dùng cán dao rựa đánh vào chân bị hại gây thương tích 15% thể hiện có tính chất côn đồ. Do đó, bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao về án treo. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng có tính chất côn đồ để áp dụng cho bị cáo là không đúng quy định và diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo. Nguyên nhân sự việc bắt nguồn từ mâu thuẫn của hai gia đình, gia đình bị hại xúc phạm đến cha mẹ, vợ của bị cáo. Bị cáo cầm dao rựa hù dọa bị hại nên đã đổi tay cầm lưỡi dao đánh bị hại bằng cán dao vào chân thể hiện bị cáo không cố ý. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bản án sơ thẩm đã nêu. Ngoài ra bị cáo còn có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo làm lại cuộc đời.

Bị cáo không tranh luận và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 05 tháng 10 năm 2020, tại nhà ông Nguyễn Văn K thuộc khu phố 8, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Đức H có hành vi sử dụng phần cán bằng gỗ của dao rựa dùng để phát cỏ có chiều dài 1,5 mét, lưỡi dao bằng kim loại làm hung khí đánh một cái từ trên xuống theo hướng từ trái qua p H trúng vào chân trái của ông Nguyễn Văn K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%. Do vậy, Tòa án nhân dân thị xã T xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo cung cấp đơn xác nhận là lao động chính trong gia đình. Tuy nhiên, bị cáo và bị hại K không có mâu thuẫn gì nhưng bị cáo dùng cán dao rựa đánh váo chân bị hại gây thương tích 15%. Do đó, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù là phù hợp, không nặng. Do bị cáo thực hiện hành vi có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 150/2021/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị không áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo p H chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2021/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Đức H p H chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ