vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N xin ly hôn với ông L"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-9-2022
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM – TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thúy Kiều

Bà Đàm Thị Thanh Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2022/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 06 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 08/8/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 179/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc N, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: Khóm V, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Địa chỉ liên hệ: thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Cao Văn L, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm V, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2022 nguyên đơn bà Trần Ngọc N trình bày như sau:

Bà Trần Ngọc N và ông Cao Văn L tổ chức lễ cưới vào năm 2004 và đăng ký kết hôn với nhau ngày 16/11/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường 3, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Quá trình chung sống bà N và ông L có hai con chung tên Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014, hiện nay hai cháu đang sống chung với ông L. Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Nay bà N yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm giải quyết những vấn đề sau:

Về hôn nhân: bà Trần Ngọc N yêu cầu được ly hôn với ông Cao Văn L.

Về con chung: bà N yêu cầu giao 02 con tên Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014 cho ông L nuôi dưỡng và bà N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu xem xét giải quyết

Về nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Cao Văn L trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Trần Ngọc N về quan hệ hôn nhân, con chung. Đối với yêu cầu ly hôn của bà N thì ông không có ý kiến gì. Về con chung trường hợp Tòa án có giải quyết chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N thì nếu bà N không đồng ý nuôi con thì ông yêu cầu được quyền nuôi hai con chung là Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014, về cấp dưỡng nuôi con thì bà N muốn cấp dưỡng cho con thì cấp dưỡng, ông không có ý kiến gì. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: không yêu cầu giải quyết.

3/ Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Bị đơn vắng mặt trong các lần triệu tập của Tòa án là chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm phát biểu về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân đề nghị chấp nhận cho bà Trần Ngọc N ly hôn với ông Cao Văn L. Về con chung đề nghị giao hai con chung tên Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014 cho ông L nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: nguyên đơn đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/ 01 con là có căn cứ chấp nhận. Về nợ chung, tài sản chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: bị đơn ông Cao Văn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 16/11/2015 bà Trần Ngọc N và ông Cao Văn L là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 3, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông L là hợp pháp. Trong cuộc sống chung giữa vợ chồng bà N cho rằng đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hòa hợp nữa, tình cảm vợ chồng đã hết, mỗi người muốn xây dựng cuộc sống riêng. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của bà N và ông L đã không còn sự quan tâm dành cho nhau, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không còn hạnh phúc, không còn gắn bó yêu thương với nhau.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của bà N và ông L trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Ngọc N.

Về con chung: Quá trình chung sống bà N và ông L có hai con chung tên Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014, hiện nay hai cháu đang sống chung với ông L.

Hội đồng xét xử thấy rằng hai cháu Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014 đang chung sống với ông L, cuộc sống của các cháu đang ổn định và hiện nay cháu phát triển bình thường. Do đó nhằm để ổn định cuộc sống cũng như tâm lý của hai con chung, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần tiếp tục giao cho ông Cao Văn L trực tiếp nuôi dưỡng Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014 cho đến tuổi trưởng thành.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà N, không ai được quyền ngăn cản hoặc cản trở bà N thực hiện hợp pháp quyền này.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: nguyên đơn đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng mỗi con 1.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Ngọc N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng. Án phí cấp dưỡng bà N phải chịu là 300.000 đồng.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm về hướng giải quyết vụ án nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc N.

1/ Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Ngọc N được ly hôn với ông Cao Văn L.

2/ Về con chung: Giao hai cháu Cao Trần P, sinh ngày 23/10/2005 và Cao Trần P1, sinh ngày 18/9/2014 cho ông Cao Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà Trần Ngọc N, không ai được quyền ngăn cản hay cản trở.

3/ Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: bà Trần Ngọc N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 14/9/2022 (ngày tuyên án).

4/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5/ Về án phí sơ thẩm: bà Trần Ngọc N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002641 ngày 22/06/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm.

Buộc bà Trần Ngọc N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

6/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ