- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST Ngày: 01 - 4 - 2022 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lý
2. Ông Lưu Văn Có
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 329/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022, Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hôn nhân gia đình ngày 18/01/2022 và ngày 18/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST –HNGĐ ngày 04/03/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K
Địa chỉ: Buôn Đ, xã N, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V
Địa chỉ: Đường X, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hoàng V kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Thời gian đầu của cuộc hôn nhân bà và ông V sống khá hạnh phúc. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian sau đó bà và ông V phát sinh nhiều mâu thuẫn, kình cãi, bất đồng. Mặc dù bà và ông V đã ngồi lại với nhau nhiều lần, nhưng không thể tiếp tục mối quan hệ. Nhận thấy mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà và ông V không có con chung.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vẫn vắng mặt.
Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên nhận định: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã đề nghị xét xử vắng mặt, nên việc Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai nên, Tòa án xét xử vắng mặt là có căn cứ. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, căn cứ Điều 56, của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị K được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V; về tài sản chung, nguyên đơn không yêu cầu nên không xét. Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bà Nguyễn Thị K khởi kiện ông Nguyễn Hoàng V cư trú tại phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa về việc “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
- Nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng V vắng đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Hoàng V kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, và đã được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 05/12/2013. Đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà K và ông V phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm, lối sống. Các bên đã ly thân nhiều năm, không ai quan quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V, tuy nhiên ông V đã không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Điều này cho thấy ông V không quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Nhưng giữa bà K và ông V đã không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng nhau giữ gìn hạnh phúc gia đình. Do vậy, có thể khẳng định hôn nhân giữa bà T và ông V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K đối với ông Nguyễn Hoàng V là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị K trình bày bà và ông V không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt, nên tách ra bằng một vụ án dân sự khác, nếu sau này ông V có yêu cầu.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28, khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị K được ly hôn ông Nguyễn Hoàng V.
1.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị K: Bà K trình bày không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt, nên tách ra bằng một vụ án dân sự khác, nếu sau này ông V có yêu cầu.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải nộp 300.000 đồng, án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0000665 ngày 18/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà K đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND TP.Nha Trang; - Chi cục THA dân sự TP.Nha Trang; - UBND phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (số 75, ngày 05/12/2013); - Nguyên đơn, bị đơn; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tùng |