vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Võ Thị Mai L đối với Ông Nguyễn Tấn Ph về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

Về quan hệ hôn nhân: cho Bà Võ Thị Mai L được ly hôn và Ông Nguyễn Tấn Ph. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Công Ph, sinh ngày: 17/7/2013 và con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017 cho Bà Võ Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi 02 con thành niên (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị Mai L xen ly hôn ông Nguyễn Tấn Ph"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Võ Thị Mai L đối với Ông Nguyễn Tấn Ph về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ
TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 01 - 2022
V/v “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đức Hiếu

2. Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Lê Văn Thoảng- Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 185/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2021/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mai L, sinh năm: 1988 Địa chỉ: K408/26 T, tổ 37, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Ph, sinh năm: 1986. Địa chỉ: K187 L, tổ 35, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 4 năm 2021 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Bà Võ Thị Mai L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với Ông Nguyễn Tấn Ph vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng sống tại K 408/26 Tôn Đản, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, đến năm 2018 chuyển đến K187 L, tổ 35, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2017 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cải vả, ông Phát can thiệp quá nhiều vào cuộc sống riêng, ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của bà, bà đã nhiều lần nộp đơn xin ly hôn, nhưng sau đó cũng mong muốn vợ chồng đoàn tụ và xin rút đơn. Tuy nhiên sau khi rút đơn cuộc sống chung cũng không hạnh phúc, đến thời điểm hiện nay bà không thể chịu đựng được hơn nữa, vì ông Phát hoàn toàn không hề thay đổi. Nay bà xác định bà không còn tình cảm với ông Phát, cuộc sống chung không hạnh phúc. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phát.

Về con chung: Bà Võ Thị Mai L xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Công Ph, sinh ngày: 17/7/2013 và con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017. Trong đơn xin ly hôn bà Loan có nguyện vọng được nuôi 02 con, yêu cầu ông Phát cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 3 triệu đồng, nhưng tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bà Loan thay đổi: bà xin được nuôi 02 con, không yêu cầu ông Phát cấp dưỡng nuôi con. c

Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mai L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Về nợ chung: Bà Võ Thị Mai L xác nhận không có

* Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Ông Nguyễn Tấn Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Thống nhất với lời trình bày của bà Loan về thời gian và điều kiện kết hôn là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn, nay bà Loan yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn vì vợ chồng có thể sắp xếp được.

Về con chung: Ông Nguyễn Tấn Ph xác nhận vợ chồng có 02 con chung như bà Loan trình bày là đúng. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, ông có nguyện vọng nuôi con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017 và nếu được ông xin nuôi 02 con, không yêu cầu bà Loan cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung: Ông Nguyễn Tấn Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Nguyễn Tấn Phxác nhận không có.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, các đương sự tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của BLTTDS.

- Về nội dung vụ án:

+ Đề nghị HĐXX căn cứ các điều 56, 58 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Võ Thị Mai L, xử cho ông Võ Thị Mai Loan được ly hôn Ông Nguyễn Tấn Ph.

+ Về con chung: Giao 02 con Nguyễn Công Ph, sinh ngày: 17/7/2013 và con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017 cho Bà Võ Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Loan không yêu cầu ông Phát cấp dưỡng nuôi con.

Bà Loan phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Ông Nguyễn Tấn Ph đã được Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng vắng mặt.

Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Ông Nguyễn Tấn Ph.

.Về Nội dung tranh chấp:

.Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào năm năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31 - 2013, quyển số 01-2011 ngày 09 tháng 5 năm 2013). Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Bà Võ Thị Mai L khai rằng: bà không còn tình cảm, không còn thương yêu gì Nguyễn Tấn Phvì trong cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình không hợp, ông Phát thường xuyên quan tâm vào cuộc sống riêng của bà, ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc, bà đã nhiều lần nộp đơn xin ly hôn ông Phát, nhưng sau khi Tòa án hòa giải bà xin rút đơn với mục đích mong muốn đoàn tụ, nhưng từ thời đó đến nay cuộc sống chung cũng không hạnh phúc nên lần này bà kiên quyết xin được ly hôn.

Đối với bị đơn Ông Nguyễn Tấn Ph xác định vợ chồng không có mâu thuẫn, ông không đồng ý ly hôn.

Căn cứ biên bản xác minh vào ngày 29 tháng 10 năm 2021 đã được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph hiện đang sinh sống tại địa phương và có 02 con chung, trong cuộc sống vợ chồng thỉnh thoảng có cải vả.

Hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia xẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph không đạt được mục đích này.

Mâu thuẫn giữa Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn.

Đối với ông Phát có ý kiến không muốn ly hôn nhưng ông không có thiện chí, không có động thái nào để thể hiện muốn hàn gắn gia đình, đã nhiều lần tòa án đình chỉ giải quyết vụ án để vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng không đạt được mục đích này, nên bà Loan tiếp tục làm đơn xin ly hôn.

Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Võ Thị Mai L , xử cho Võ Thị Mai Loan được ly hôn Ông Nguyễn Tấn Ph là phù hợp.

.Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Công Ph, sinh ngày: 17/7/2013 và con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017.

Ly hôn, Bà Võ Thị Mai L có nguyện vọng được trực tiếp nhận nuôi dưỡng 02 con, nhưng nếu ông Phát muốn nuôi một đứa thì bà đồng ý. Không ai cấp dưỡng cho ai. Ông Nguyễn Tấn Ph có nguyện vọng nuôi con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017 và nếu được ông xin nuôi 02 con, không yêu cầu bà Loan cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu được nuôi con của Bà Võ Thị Mai L thì thấy:

Hiện 02 con đang sống cùng mẹ, và nguyện vọng của con lớn cũng muốn sống cùng mẹ sau khi ba mẹ ly hôn, mẹ có thu nhập ổn định để nuôi con, để không làm xáo trộn cuộc sống của con, HĐXX căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ năm 2014 xử giao 02 con cho Bà Võ Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị Mai L không yêu cầu Ông Nguyễn Tấn Ph cấp dưỡng nên HĐXX không đề cập đến.

Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

Về nợ chung: Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph xác nhận không có

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Loan phải chịu là 300.000đ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Võ Thị Mai L , xử cho Bà Võ Thị Mai L được ly hôn Ông Nguyễn Tấn Ph và giao 02 con chung tên Nguyễn Công Ph, sinh ngày: 17/7/2013 và con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017 cho Bà Võ Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng.

HĐXX xét thấy đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; các điều 147, 227, 228, 266, 267, 269, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Võ Thị Mai L đối với Ông Nguyễn Tấn Ph về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

1. Về quan hệ hôn nhân: cho Bà Võ Thị Mai L được ly hôn và Ông Nguyễn Tấn Ph.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Công Ph, sinh ngày: 17/7/2013 và con Nguyễn Công Tr, sinh ngày: 12/10/2017 cho Bà Võ Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi 02 con thành niên (đủ 18 tuổi).

Ông Nguyễn Tấn Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không nuôi con được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

4.Về nợ chung: Bà Võ Thị Mai L và Ông Nguyễn Tấn Ph xác nhận không có.

5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Bà Võ Thị Mai L phải chịu là 300.000đ nhưng được trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí Võ Thị Mai Loan đã nộp tại biên lai thu số 000 9727 ngày 16.6.2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, Bà Võ Thị Mai L đã nộp đủ án phí.

6. Báo cho Võ Thị Mai Loan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Riêng Ông Nguyễn Tấn Ph vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 .

Cỡ chữ