vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị D: Xử cho chị Mai Thị D được ly hôn với anh Hoàng Công P.

Về án phí: Chị Mai Thị D phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng là 300.000đ tại biên lai số 0006266 ngày 07/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D xinly hôn anh P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị D: Xử cho chị Mai Thị D được ly hôn với anh Hoàng Công P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 31/3/2022
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan – Thẩm phán

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Ông Trần Xuân Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 265/2021/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2021, về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18 /2022/QĐXX – ST ngày 17 tháng 2 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Mai Thị D, sinh năm: 1989

Bị đơn: Anh Hoàng Công P, sinh năm: 1986

HKTT: thôn 5, T, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên tòa có mặt chị D, vắng mặt anh P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Mai Thị D trình bày:

- Hôn nhân: Chị D và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 10/5/2016.

Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2019 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có con chung nên trong cuộc sống thường xảy ra va chạm, sống không có hạnh phúc, chị D về nhà bố mẹ đẻ sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không quan tâm đến nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo.

Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh Hoàng Công P theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên anh P không có bản tự khai và cũng không tham gia tố tụng tại Tòa án, do đó Tòa án không ghi được ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị D và cũng không tiến hành được phiên hòa giải theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Hoàng Công P theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, anh P vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân:

Chị Mai Thị D và anh Hoàng Công P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 10/5/2016. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh P là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2019 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có con chung nên trong cuộc sống thường xảy ra va chạm, sống không có hạnh phúc, chị D về nhà bố mẹ đẻ sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không quan tâm đến nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị D là có cơ sở, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Mai Thị D được ly hôn với anh Hoàng Công P.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung

Về tài sản:Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điều 227, điều 228 , Điều 271, Điều 273 BLTTDS; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý về án phí, lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị D: Xử cho chị Mai Thị D được ly hôn với anh Hoàng Công P.

- Về án phí: Chị Mai Thị D phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng là 300.000đ tại biên lai số 0006266 ngày 07/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ