vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C.

Về con C: Giao cho anh Vương Văn C nuôi cả 02 con là Vương Thị V, sinh ngày 26/02/2006 và Vương Thị Y, sinh ngày 05/01/2005. Chị Hoàng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Việc thăm nom con không được để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17/02/2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa
chị H và anh C.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Yến

2. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 295/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

2. Bị đơn: Anh Vương Văn C, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày: Năm 2004 chị kết hôn với anh Vương Văn C. Trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Lục Nam. Sau đám cưới, chị về nhà anh C làm dâu ngay. Chị và anh C C sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì nẩy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng tH xuyên cãi nhau, xúc phạm nhau. Nguyên nhân do vợ chồng ngày càng bất đồng về quan điểm sống. Chị bỏ về nhà mẹ đẻ chị ở từ tháng 07/2021. Từ đó chị và anh C sông ly thân, chấm dứt mợi quan hệ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C đã hết, không thể đoàn tụ gia đình được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con C: Chị và anh Vương Văn C sinh được 02 con C là Vương Thị V, sinh ngày 26/02/2006 và Vương Thị Y, sinh ngày 05/01/2005. Cả 02 con đang ở với anh C, vẫn khỏe mạnh, phát triển bình tH. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, nếu không chị đề nghị được nuôi một con, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị tôn trọng nguyện vọng của các con, các con ở với ai chị cũng đồng ý. Hiện chị đang làm công nhân tại Công ty Hồng Hải tại khu công nghiệp V Trung- Bắc Giang, thu nhập 7.000.000đ/tháng.

Về tài sản C và nghĩa vụ C đối với tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn anh Vương Văn C trình bày: Được sự đồng ý của hai gia đình, năm 2004 anh và chị Hoàng Thị H đã tổ chức đám cưới. Trước khi kết hôn anh chị có được tự nguyện tìm hiểu, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau đám cưới, chị H về nhà anh làm dâu ngay. Vợ chồng C sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì nẩy sinh mâu thuẫn. Vợ chồng tH xuyên cãi nhau. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Nay chị Hoàng Thị H xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con C: Anh và chị Hoàng Thị H sinh được 02 con C là Vương Thị V, sinh ngày 26/02/2006 và Vương Thị Y, sinh ngày 05/01/2005. Hiện nay cả 02 con đang ở với anh, vẫn khỏe mạnh, phát triển bình tH. Ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh cũng đang làm công nhân, thu nhập trung bình 7.000.000đ/tháng. Ngoài ra anh sẽ làm thêm, cố gắng xoay sở để nuôi các con anh trưởng thành.

Về tài sản C và nghĩa vụ C đối với tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C; về con C: giao cả 02 con cho anh C nuôi; cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét; về tài sản C và nghĩa vụ C đối với tài sản không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H kết hôn với anh Vương Văn C trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Lục Nam ngày 22/12/2004, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau đám cưới chị Hoàng Thị H về nhà anh Vương Văn C làm dâu ngay. Ban đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó nẩy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, cũng như kinh tế đã lâu, ai sống thế nào thì mặc, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C đều đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, cần công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C.

. Về con C: Chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C sinh được 02 con C là Vương Thị V, sinh ngày 26/02/2006 và Vương Thị Y, sinh ngày 05/01/2005. Từ tháng 7/2021, chị H về nhà mẹ đẻ chị ở, cả hai con đều ở với anh C. Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, cả 02 con đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với anh C, chị H đồng ý. Để tránh làm xáo trộn về cuộc sống nên giao cả 02 con cho anh Vương Văn C nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

. Về tài sản C và nghĩa vụ C đối với tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Vương Văn C.

2. Về con C: Giao cho anh Vương Văn C nuôi cả 02 con là Vương Thị V, sinh ngày 26/02/2006 và Vương Thị Y, sinh ngày 05/01/2005. Chị Hoàng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Việc thăm nom con không được để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0013255 ngày 01/09/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

4. Về kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ