vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ Ph MLô.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ P MLô được ly hôn với anh Y S Niê. [2] Về nuôi con chung: Giao cháu H’ Đa L MLô, sinh ngày 03/7/2015 cho chị H’ P MLô trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H' P MLô xin ly hôn với anh Y S Niê"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ Ph MLô.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 7 năm 2022
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Sáu.

2/ Bà Nguyễn Thị Chinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2022/QĐST-DS ngày 24/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị H’ P MLô. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đ.

Bị đơn: Anh Y S Niê. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn W, xã E, huyện K, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên chị H’ P MLô trình bày:

Năm 2015 chị và anh Y S cưới nhau, đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Hồ trên tinh thần tự nguyện yêu thương. Cuộc sống chung hạnh phúc trong một thời gian ngắn thì đến tháng 02 năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, lý do vợ chồng chị không hợp tính tình của nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và vợ chồng ly thân từ đó đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể níu kéo để đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh Y S ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị có 01 con chung là H’ Đa L MLô, sinh ngày 03/7/2015. Chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Y S trợ cấp nuôi con chung cho chị và anh Y S có quyền đi lại thăm nom con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Y S Niê tại phiên tòa hôm nay vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với anh Y S nhưng anh Y S đều vắng mặt nên Tòa án không thể lấy lời khai và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng nhận định về các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H’ P; Giao cháu H’ Đa L MLô, sinh ngày 03/7/2015 cho chị H’ P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Y S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H’ P.

Về tài sản đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 85/2018 của UBND xã Ea Hồ, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk thì xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H’ P MLô và anh Y S Niê là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình hai người không hợp nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Từ tháng 02/2021 đến nay hai người đã sống ly thân.

Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 20/4/2022 tại địa phương nơi chị H’ P và anh Y S sinh sống xác nhận không nắm được lý do mâu thuẫn của hai vợ chồng, tuy nhiên hiện nay vợ chồng chị H’ Ph đã ly thân với nhau, không chung sống cùng nhau.

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ P, cho chị H’ P ly hôn với anh Y S.

Về nuôi con chung: Chị H’ P và anh Y Sĩ có 01 con chung là cháu H’ Đa L MLô, sinh ngày 03/7/2015. Quá trình giải quyết, chị H’ P có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. HĐXX xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là trách nhiệm của cả cha và mẹ. Tuy nhiên từ khi ly thân cho đến nay cháu H’ Đ Lim đều do chị H’ Phih trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H’ Phih trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’P không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H’P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng về nội dung vụ án là có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Chị H’P được miễn nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật vì là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ Ph MLô.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ P MLô được ly hôn với anh Y S Niê.

[2] Về nuôi con chung: Giao cháu H’ Đa L MLô, sinh ngày 03/7/2015 cho chị H’ P MLô trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Y S Niê không phải trợ cấp nuôi con chung cho chị H’ P MLô.

Không ai có quyền cản trở việc đi lại thăm nom con chung.

[3] Về án phí: Chị H’ P MLô được miễn nộp án phí theo quy định.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ