vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Nguyễn Thị Thu H.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nông Văn T. Về con chung: Giao Nông Tường V, sinh ngày 25/11/2010 và Nông Bảo A, sinh ngày 21/4/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA ly hôn Nguyễn Thị Thu H - Nông Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Nguyễn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 5- 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Huệ,

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Anh Tuấn,

2. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Bàn Thị Bích Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 12/2022/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn TV, xã XC, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. (chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nông Văn T, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt, phiên tòa triệu tập lần thứ 02.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nông Văn T qua tự nguyên tìm hiểu đã đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang được một năm do điều kiện công việc chị công tác tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang nhưng hai vợ chồng chị vẫn đi lại và sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dần dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt, chị và anh T sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn T.

- Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T có 02 người con chung tên là Nông Tường V, sinh ngày 25/11/2010 và Nông Bảo A, sinh ngày 21/4/2015. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập anh Nông Văn T đến để giải quyết việc chị Nguyễn Thị Thu H đề nghị ly hôn, nhưng anh T không có mặt và không có ý kiến trình bày đối với các nội dung đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh Nông Văn T vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Theo lời khai của bà Phạm Thị L (mẹ đẻ của anh Nông Văn T) thì chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nông Văn T được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới, vợ chồng chị H, anh T có chung sống với gia đình tại tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa. Cuộc sống vợ chồng anh T chị H có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ, con. Anh T thường xuyên chơi bời, không chăm lo gia đình. Quá trình chung sống chị H, anh T có 02 người con chung tên là Nông Bảo A, sinh năm 2015 và Nông Tường V, sinh năm 2010. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị H. Anh T có biết việc chị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh, anh có ý kiến đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang phát biểu ý kiến về việc T theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” của chị Nguyễn Thị Thu H; cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nông Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Nông Tường V, sinh ngày 25/11/2010 và Nông Bảo A, sinh ngày 21/4/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng.

Chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn với anh Nông Văn T; anh Nông Văn T có hộ khẩu tH trú tại tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn", thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Quá trình xác minh tại địa phương cho thấy, anh Nông Văn T có hộ khẩu tH trú tại tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Theo thông tin từ gia đình, anh T biết việc chị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn với mình. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo, triệu tập đối với anh T và theo gia đình anh T cung cấp, anh T có biết việc chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đối với chị nhưng anh T không có mặt tại Tòa án và cũng không thông báo địa chỉ cụ thể nơi ở và nơi làm việc, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn anh Nông Văn T vẫn vắng mặt lần thứ hai, chị Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nông Văn T có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2010 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Qua kết quả xác minh:

+ Tại tổ Vĩnh Thịnh, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang cho thấy: Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị H, anh T sinh sống tại tổ VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa. Do điều kiện công việc chị H đi làm giáo viên ở tỉnh Hà Giang. Đại diện thôn cung cấp vợ chồng chị H anh T có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là anh T không tu chí làm ăn, nợ nần, không quan tâm chăm sóc gia đình vợ con.

+ Đại diện gia đình anh T cung cấp là cuộc sống vợ chồng anh T chị H có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ, con. Anh T thường xuyên chơi bời, không chăm lo gia đình. Anh T có biết việc chị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh, anh có ý kiến đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng chị H và anh T thực tế đã không tồn tại từ năm 2019 đến nay; chị H, anh T đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của chị H, anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H là xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nông Văn T.

Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Nông Tường V, sinh ngày 25/11/2010 và Nông Bảo A, sinh ngày 21/4/2015. Xét thấy hiện anh Nông Văn T không có mặt tại địa phương, không có địa chỉ cư trú rõ ràng nên cần giao các cháu Nông Tường V và Nông Bảo A cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Nông Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Nguyễn Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nông Văn T.

2. Về con chung: Giao Nông Tường V, sinh ngày 25/11/2010 và Nông Bảo A, sinh ngày 21/4/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm ly hôn: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0003636, ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Anh Nông Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nông Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ