vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Về con chung: Đối với con chung là Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 04-6-2003 đã thành niên, nên không xem xét; Đối với con chung là Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008 giao cho bà Lê Thị S tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2022
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Vũ.

Bà Lê Thị Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Huấn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm: 1984 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1975 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Con chung của bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N là cháu Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008 (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Cùng địa chỉ: ấp KB, xã HH, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13-4-2022 và bản tự khai ngày 01-6-2022, nguyên đơn bà Lê Thị S trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn N đi đến hôn nhân do tự tìm hiểu quen biết nhau, được cha mẹ hai bên chấp nhận, làm lễ cưới vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HH vào ngày 12-11-2002. Vàng nữ trang cưới có 02 chỉ 24K gồm đôi bông tai 01 chỉ 24K và một sợi dây chuyền 01 chỉ 24K, quá trình chung sống, vợ chồng đã bán hết vàng cưới để nuôi con nên hiện không còn. Sau ngày cưới, thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do ông N không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, giữa vợ chồng bất đồng quan điểm, xảy ra cự cải, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nên bà sống ly thân với ông N đã 05 năm nay mà không hàn gắn lại được. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên nay bà khởi kiện xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn N có hai con chung là Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 04-6-2003 và Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008, hiện hai con đang sống chung với bà. Khi ly hôn, đối với Nguyễn Thị Huỳnh Nh đã thành niên, nên bà không yêu cầu giải quyết; đối với Nguyễn Thành Y tùy nguyện vọng của con sống với cha hoặc mẹ đều được, bà chưa yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả: Bà xác định bà và ông Nguyễn Văn N không có tài sản chung, không nợ ai, cũng không ai nợ bà và ông N, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà xác định ngoài những giấy tờ đã nộp kèm đơn khởi kiện, thì bà không nộp thêm chứng cứ mới để Tòa án xem xét. Bà cũng không thuộc diện gia đình chính sách nào.

Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt cùng ngày 03-6-2022, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông xác định ông và bà Lê Thị S vợ chồng chung sống được 19 năm thì không còn hợp nhau nữa, nên không thể tiếp tục hôn nhân. Ông thống nhất toàn bộ các vấn đề theo yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S đã trình bày. Nay ông cũng đồng ý ly hôn với bà S; Con chung là Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 04-6-2003 đã thành niên, nên không yêu cầu giải quyết và con chung là Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008 muốn sống với cha hay mẹ đều được, chưa yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung; Nợ chung phải thu, phải trả: Ông thống nhất xác định không có. Ông không có ý kiến gì với các chứng cứ bà S đã nộp kèm theo đơn khởi kiện mà Tòa án đã công khai cho ông được biết. Riêng ông không cung cấp chứng cứ gì để Tòa án xem xét.

Tại biên bản lấy lời khai, đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt cùng ngày 01-6-2022, cháu Nguyễn Thành Y trình bày: Cha mẹ cháu là Nguyễn Văn N và Lê Thị S. Hiện nay cháu đang sống chung với mẹ. Trường hợp cha mẹ ly hôn, thì nguyện vọng của cháu là muốn được tiếp tục sống chung với mẹ.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị S, ông Nguyễn Văn N cùng cháu Nguyễn Thành Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự; đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đề nghị áp dụng các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S: Cho bà S được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Về con chung là Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 04-6-2003 đã thành niên, nên không giải quyết và con chung là Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008 giao cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung; Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự chưa đặt ra yêu cầu, nên không xem xét; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Về tài sản chung và về nợ chung: Bà S và ông N cùng xác định không có, nên không xem xét giải quyết. Ngoài ra, Vị đề nghị nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị S là nguyên đơn và ông Nguyễn Văn N là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án nhân dân huyện C triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử vụ án vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 30-6-2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, nhưng bà S, ông N cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo luật định.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HH vào ngày 12-11-2002, nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 10 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do những bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, tin tưởng lẫn nhau, dẫn đến ông bà tự ý sống ly thân từ đó cho đến hôm nay mà không hàn gắn lại được.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,…”, nhưng bà S và ông N đã không thực hiện được các nghĩa vụ này với nhau. Hiện tại, ông bà mỗi người mỗi việc, sống ở hai nơi khác nhau, không còn quan tâm, cũng không liên hệ để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tòa án có thông báo mời hòa giải vào các ngày 01-6-2022, 14-6-2022 để bà S, ông N có cơ hội gặp nhau trao đổi về tình trạng hôn nhân giữa hai người, nhưng ông N đều vắng mặt. Ông N không thể hiện mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà Sửa.

Từ những nhận định trên, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng bà S, ông N đang trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị S là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên Tòa án chấp nhận yêu cầu, cho bà S được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N có hai người con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 04-6-2003 và Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008, hiện đang sống chung với bà S. Đối với Nguyễn Thị Huỳnh Nh đã thành niên (đủ 18 tuổi), nên Tòa án không xem xét vấn đề nuôi con, cấp dưỡng nuôi con; Đối với cháu Nguyễn Thành Y, tại biên bản lấy lời khai, đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt cùng ngày 01-6-2022, cháu Y đều nêu nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ trường hợp khi giải quyết cha mẹ ly hôn. Cả bà S và ông N đều thống nhất khi ly hôn tùy nguyện vọng của con muốn sống chung với cha hay mẹ đều được. Do đó, cần xử cho bà S được quyền nuôi con là phù hợp với quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Y. Vì bà S chưa đặt ra yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tòa án đã giải thích theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N cùng thống nhất xác định không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về nợ chung: Do bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N cùng thống nhất xác định không nợ ai, cũng không ai nợ ông bà, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị S có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 70, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Đối với con chung là Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 04-6-2003 đã thành niên, nên không xem xét; Đối với con chung là Nguyễn Thành Y, sinh ngày 26-10-2008 giao cho bà Lê Thị S tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu Y là muốn được sống chung với mẹ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N chưa đặt ra yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N thống nhất xác định không có tài sản chung, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn N thống nhất xác định không nợ ai, cũng không ai nợ ông bà, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0010373 ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ