- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Nguyễn Sa M xin ly hôn bị đơn Nguyễn Phương D; chị Bùi Nguyễn Sa M được ly hôn với anh Nguyễn Phương D.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Bản án số: 18/2022/HNGĐ-PT Ngày: 27-12-2022 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Đậu Thị Quy;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thục Uyên - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Bà Trần Thị Thu Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 17/2022/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 52/2022/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2022/QĐXXPT-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Nguyễn Sa M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn HL, xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên; có mặt;
2. Bị đơn: Nguyễn Phương D, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn HL, xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên; có mặt;
3. Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Phương D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Nguyễn Sa M trình bày:
Chị M và bị đơn anh D tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa ngày 18/7/2011. Đến năm 2015, chị sinh con thì chị phát hiện chồng có người phụ nữ khác. Vì mới sinh con nên chị níu kéo chồng quay lại để sống chung. Thời gian sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn vì những chuyện rất nhỏ nhặt. Đến năm 2020, chồng chị nghe lời người khác nghi ngờ chị ngoại tình, về nhà đánh chị, nên vợ chồng không tin tưởng nhau. Đến ngày 29/4/2022, chồng chị và gia đình phía chị nói chị có mối quan hệ với người khác. Vì muốn ly hôn với anh D nên chị thừa nhận có ngoại tình, sau đó chồng chị đã đánh chị rất nặng. Từ đó, vợ chồng không còn quan tâm nhau, mỗi người tự lo riêng về mình, anh D thường về nhà mắng nhiếc, đánh đập vợ con vô cớ.
Nay chị M thấy vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn vợ chồng, nên yêu cầu xin ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Bảo Dinh, sinh ngày 09/02/2015. Ly hôn, chị M xin được trực tiếp nuôi cháu Dinh, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Phương D trình bày:
Anh D thống nhất như chị M trình bày về quan hệ hôn nhân, vợ chồng anh chị tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa ngày 18/7/2011. Nay chị M xin ly hôn anh không đồng ý vì anh còn thương vợ thương con. Việc chị M cho rằng anh lạnh nhạt là không đúng vì chị M có người đàn ông khác nên tìm cách né tránh. Anh D thừa nhận trước đây có đánh chị M vì chị có người đàn ông khác. Mặt khác, anh không đồng ý ly hôn là vì con, bản thân anh không có cha từ nhỏ nên thấu hiểu việc con không có cha mẹ, thiếu tình thương của cha hoặc mẹ.
Về con chung: Anh không đồng ý giao cháu Nguyễn Bảo Dinh, sinh ngày 09/02/2015 cho chị M trực tiếp nuôi.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 52/2022/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 116, 117, 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chị Bùi Nguyễn Sa M được ly hôn với anh Nguyễn Phương D.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Dinh, sinh ngày 09/02/2015 cho chị Bùi Nguyễn Sa M trực tiếp nuôi.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn anh Nguyễn Phương D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000đ; thời gian cấp dưỡng từ ngày 01/10/2022.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
- Ngày 26/9/2022 và ngày 15/10/2022, bị đơn anh Nguyễn Phương D có đơn kháng cáo về phần quan hệ hôn nhân, về con chung và cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm về phần cấp dưỡng nuôi con; buộc bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ, thời gian tính từ ngày 01/10/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, kết quả tranh luận của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về quan hệ hôn nhân:
Anh D kháng cáo xin được đoàn tụ với chị M, cho rằng vẫn còn yêu thương vợ con và vẫn làm việc kiếm tiền chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn bị đơn; anh D xin được đoàn tụ nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới về việc vợ chồng hàn gắn tình cảm. Ngoài ra, chị M cho rằng sau khi xét xử sơ thẩm anh D vẫn đánh chị M; chị M thừa nhận chị có ngoại tình và không muốn hàn gắn tình cảm với anh D, nên thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng anh D, chị M đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của hai bên không đạt được, nên không có căn cứ để xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn xin đoàn tụ.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về con chung và cấp dưỡng:
Về con chung: Cháu Nguyễn Bảo Dinh, sinh ngày 09/02/2015 hiện tại do chị M trực tiếp nuôi dưỡng, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ, chị M đủ điều kiện nuôi dưỡng con. Do đó, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu Dinh, nên giao cháu Dinh cho chị M được trực tiếp nuôi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại Toà sơ thẩm anh D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ ngày 01/10/2022. Tuy nhiên, anh D kháng cáo không đồng ý cấp dưỡng; chị M yêu cầu Toà giải quyết theo quy định của pháp luật. Đây là tình tiết mới cần xem xét.
Xét thấy: Ý kiến không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung của bị đơn là không phù hợp với quy định tại Điều 107 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, căn cứ vào mức thu nhập thực tế của anh D, căn cứ vào mức sống chung ở địa phương của các đương sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, buộc bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/10/2022.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn về cấp dưỡng nuôi con chung, sửa bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần, nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Nguyễn Phương D về phần cấp dưỡng nuôi con chung; sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 52/2022/HNGĐ-ST, ngày 15/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên.
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 117, 118 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 27, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Nguyễn Sa M xin ly hôn bị đơn Nguyễn Phương D; chị Bùi Nguyễn Sa M được ly hôn với anh Nguyễn Phương D.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo Dinh, sinh ngày 09/02/2015 cho nguyên đơn Bùi Nguyễn Sa M được trực tiếp nuôi.
Bị đơn Nguyễn Phương D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Buộc bị đơn anh Nguyễn Phương D phải cấp dưỡng nuôi mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng); thời gian cấp dưỡng từ ngày 01/10/2022.
Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn Bùi Nguyễn Sa M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 004102, ngày 06/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Hoà.
Hoàn trả cho bị đơn Nguyễn Phương D số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, theo biên lai thu số 0007417 ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao; - VKSND tỉnh Phú Yên; - TAND huyện Phú Hoà; - Chi cục THADS Phú Hoà; - Phòng KTNV-THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Quang |