vanban.org

Bản án 18/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D, buộc ông Võ Văn K và bà Lê Thị R trả cho chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D số tiền 53.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D về việc yêu cầu ông K và bà R trả số tiền lãi 1.642.000 đồng. Kể từ ngày chị Nguyễn Thanh Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Võ Văn K và bà Lê Thị R chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Hộ Kinh doanh Tân Quang Minh - Lê Thị Rít, Võ Văn Kè"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D, buộc ông Võ Văn K và bà Lê Thị R trả cho chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D số tiền 53.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/DS-ST
Ngày 28 - 01- 2022
V/v tranh hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Ông Hồ Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cẩm Tú là thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 28 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 346/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2021/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D. Địa chỉ: Đường 30/4, Khóm 4, thị trấn Đầm D, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Tr: Chị Lê Thị Thùy Tr, sinh năm 1997, địa chỉ: Số 20, ấp Bà Đ, xã Lý Văn L, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

+ Bà Lê Thị R; Sinh năm: 1955; Địa chỉ: ấp Công Đ, xã Tân Tr, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

+ Ông Võ Văn K; Sinh năm: 1955; Địa chỉ: ấp Công Đ, xã Tân Tr, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của chị Tr – chị Lê Thị Thùy Tr trình bày:

Chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ Hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D có hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm với ông Võ Văn K và bà Lê Thị R Thỏa thuận ông K và bà R phải thanh toán tiền thức ăn sau cuối mỗi vụ nuôi.

Quá trình mua bán ông K và bà R không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Theo đối chiếu công nợ và cam kết thanh toán ngày 12/4/2021 thì ông K và bà R còn nợ số tiền mua thức ăn là 53.058.000 đồng.

Tân Quang M Đầm D đã nhiều lần liên hệ yêu cầu thanh toán nhưng ông K và bà R cứ hứa hẹn mà không thực hiện việc trả nợ. Nay chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D yêu cầu ông K và bà R trả số tiền vốn và lãi tính từ ngày 12/4/2021 đến ngày 12/10/2021 (mức lãi là 0,83%/tháng) là 55.700.000 đồng (vốn 53.058.000 đồng, lãi 2.642.000 đồng).

Theo đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị Tr, đề ngày 27/01/2022 chị Tr rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông K và bà R trả số tiền vốn là 53.058.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.

Đối với bị đơn: Ông Võ Văn K và bà Lê Thị R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến đối với nội dung và yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 27/01/2022 chị Lê Thị Thùy Tr có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông Võ Văn K và bà Lê Thị R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Quá trình giải quyết vụ án chị Tr rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông K và bà R trả số tiền vốn 53.058.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Xét thấy việc rút yêu cầu trả lãi là tự nguyện, không trái pháp luật nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Tr là đúng quy định.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ Hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D với ông K và bà R có thỏa thuận mua bán thức ăn nuôi tôm công nghiệp và theo bảng đối chiếu công nợ ngày 12/4/2021, Hội đồng xét xử xét thấy, ông K và bà R có mua thức ăn nuôi tôm công nghiệp với chị Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D. Quá trình mua bán, anh T và chị Ph không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, số dư nợ khi kết thúc hợp đồng vào ngày 12/4/2021 ông K và bà R còn nợ số tiền mua thức ăn là 53.058.000 đồng, có chữ ký xác nhận dự nợ của ông Võ Văn K tại bảng đối chiếu công nợ.

Ông K và bà R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết được yêu cầu khởi kiện của chị Tr, nhưng ông, bà không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Như vậy, nội dung và yêu cầu khởi kiện của chị Tr thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định, ông K và bà R còn nợ chị Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D số tiền 53.058.000 đồng và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tr là đúng quy định.

Về yêu cầu trả lãi, xét thấy: Theo đơn khởi kiện của chị Tr yêu cầu ông K và bà R trả số tiền lãi là 1.642.000 đồng. Quá trình giải quyết chị Tr có đơn yêu cầu rút lại phần lãi, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu của chị Tr.

Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thanh Tr không phải chịu, đã dự nộp tạm ứng án phí được hoàn lại. Ông K và bà R phải chịu 2.653.000 đồng (53.058.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 2 Điều 244, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 433, Điều 434 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D, buộc ông Võ Văn K và bà Lê Thị R trả cho chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D số tiền 53.058.000 đồng (năm mươi ba triệu không trăm năm mươi tám nghìn).

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Tr – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D về việc yêu cầu ông K và bà R trả số tiền lãi 1.642.000 đồng.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thanh Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Võ Văn K và bà Lê Thị R chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng ông K và bà R còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Thanh Tr - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M Đầm D không phải chịu, ngày 11 tháng 11 năm 2021 đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.393.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011673 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được nhận lại. Ông K và bà R phải chịu 2.653.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng). Ông K và bà R chưa nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ