vanban.org

Bản án 18/2021/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 10/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Th phạm tội “Giết người”. Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Th 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Th - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HS-ST
Ngày: 10 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lâm Bách

Thẩm phán:

Ông Võ Minh Công

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Yến.

Bà Lê Thị Chinh.

Ông Trần Quang Truyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Th Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Kiều Ti Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2021, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 đối với

Bị cáo: LÊ NGỌC TH (tên gọi khác: Tý Èo), sinh ngày: 20/8/1988, tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn P, xã PV, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Tiến Đ và bà Nguyễn Thị Th; Vợ và con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tại Bản án số 43/2013/HSST ngày 26/7/2013 Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; đã chấp hành xong; Tạm giữ: 23/02/2021; chuyển Tạm giam: 26/02/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc Th: Luật sư Hứa Thanh Ka, thuộc Văn phòng Luật sư Nhất Linh, Đoàn luật sư tỉnh Ninh Thuận. Địa chỉ: số 13, đường Hàm Nghi, phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Phùng Tấn Đ, sinh năm: 1978 (đã chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị G, sinh năm: 1980; Có mặt tại phiên tòa.

2. Anh Phùng Lý Ph, sinh ngày 02/5/2001; Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Phùng Ngọc Th, sinh năm 1963; Có mặt tại phiên tòa.

4. Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm: 1961; Có mặt tại phiên tòa.

Là Vợ, con, cha, mẹ của bị hại

Cùng cư trú: Thôn P2, xã PV, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1943; Là mẹ của bị cáo.

Nơi cư trú: Thôn P1, xã PV, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Lương Ngọc D, sinh năm: 1985. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bà Phùng Thị Thu T, sinh năm : 1990. Có mặt tại phiên tòa.

3. Ông Phan Thanh T, sinh năm : 1991. Vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng cư trú: Thôn P, xã PV, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận.

4. Cháu Phùng Lý H, sinh ngày 18/12/2006. Có mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ cho cháu H: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm: 1980.

Có mặt tại phiên tòa.

5. Ông Phan Văn S, sinh năm : 1990. Vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng địa chỉ: Thôn P2, xã PV, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận.

6, Ông Trương Phúc H, sinh năm: 1991. Có mặt tại phiên tòa.

Nơi cư trú: Thôn PT2, xã PS, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/02/2021 (nhằm ngày mùng 3 Tết Nguyên đán), sau khi đi nhậu, Lê Ngọc Th điều khiển môtô biển số 51U6- 8108 chở Phan Văn S về nhà. Khi đi đến trước nhà anh Phùng Tấn Đ ở thôn P2, xã PV, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận thì tự té xe làm Th và S ngã xuống đường.

Lúc này, anh Đ đang ngồi nhậu trong nhà, nghe cháu Phùng Lý H (con trai anh Đ) chạy vào nói thì ra xem. Thấy anh Phan Văn S là cháu họ của mình đang nằm dưới đường, còn Th thì đang đỡ S dậy. Anh Đ bảo Th để anh đưa S về nhưng Th không cho và chửi lại nên anh Đ dùng tay tát vào mặt Th, đồng thời dùng chân đạp vào ngực Th một cái. Bị đánh, Th tiếp tục chửi thì bị anh Đ dùng chân đạp tiếp một cái trúng vào bụng và nhào đến dùng tay bóp vào cổ Th đẩy lùi về phía sau. Th dùng tay phải rút dao bấm mang trong túi quần bên phải ra rồi bật chốt lưỡi dao đâm một nhát từ dưới lên trúng vào ngực trái anh Đ. Anh Đ ôm vật Th nằm ngửa xuống vũng nước dưới đường và ngồi lên người Th thì Th cầm dao đâm tiếp hai nhát trúng vào khuỷu tay trái và cẳng chân trái. Do bị đâm trúng tim, máu ra nhiều nên anh Đ gục xuống người Th. Thấy vậy, mọi người đến ôm anh Đ đỡ dậy và giật lấy con dao trên tay của Th rồi đưa anh Đ đến Trạm y tế xã Phước Vinh cấp cứu nhưng do vết thương nặng nên anh Đ đã tử vong.

Còn Th sau khi gây án đã cởi áo khoác và áo thun bị ướt, bỏ lại hiện trường rồi đi bộ đến quán nhậu “Làng Tôi” ở thôn Phước An 2, xã Phước Vinh gặp Phan Thanh T và nhờ Tiến chở về nhà Th tắm rửa. Sau đó, Th bỏ trốn và bị truy nã, đến ngày 23/02/2021 ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ giết người tại ngã tư đường bê tông liên thôn Phước An 1- Phước An 2 và đường đất đi lại trong thôn Phước An 2; góc đường hướng Đông Bắc tiếp giáp nhà ông Phùng Tấn Đ; hướng Tây Bắc tiếp giáp nhà ông Nguyễn Văn Q; hướng Tây Nam giáp nhà ông Võ Hữu H, hướng Đông Nam tiếp giáp nhà ông Hùng Chân T...

Cách cổng nhà ông Nguyễn Văn Q 2,7m về hướng Đông Nam; tiếp giáp với vị trí số 1 phát hiện nhiều dấu vết màu nâu ướt dạng vết loang và dấu vết dạng nhỏ giọt có kích thước: (2,2 x 1,3)m (vị trí số 2 ). Cách vị trí số 1 là 1,7m về hướng Đông Bắc; cách vị trí số 2 là 1,6m về hướng Tây Nam phát hiện một mũ kết lưỡi trai màu đen.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

- Khám ngoài:

Vùng ngực: Dính máu khô, ngực bên trái có băng gạc dính máu, mở băng gạc thấy tại vị trí đường nách trước bên trái, tương ứng khoang liên sườn 5-6, cách núm vú trái 3,5cm, cách gót chân trái 119cm có một vết thương chéo hình bầu dục, kích thước: (2,3x1,4)cm, thấu vào trong lồng ngực, bờ mép vết thương sắc gọn, đầu dưới sắc, đầu trên tù. Chiều hướng vết thương từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong...

Tay trái: mặt sau khuỷu tay có vết thương rách da không hình kích thước: (5,5x2)cm, sâu sát xương, bờ sắc gọn, lòng bàn tay dính máu khô.

Chân trái: Mặt trong 1/3 trên cẳng chân có vết thương ngang hình bầu dục kích thước: (2x1)cm, sâu 7cm, bờ sắc gọn, toàn bộ cẳng chân dính máu khô...

- Khám trong:

Giải phẫu vùng ngực theo đường giữa, vào trong thấy hố ngực phải khô, hố ngực trái có nhiều máu loãng, hai phổi đầy.Vết thương bên ngoài đi qua kẽ liên sườn 5-6 bên trái gây thủng bao màng tim, kích thước vết thủng: (2x1,5)cm, bao màng tim có nhiều máu loãng lẫn máu đông. Vết thương tiếp tục đi xuyên vào trong làm thủng mỏm tim đi vào buồng tim, kích thước vết thủng: (2,5x0,1)cm, buồng tim khô, các cột cơ van tim không thấy tổn thương.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 42/TT ngày 22/02/2021 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận: Nguyên nhân chết của Phùng Tấn Đ là do shock mất máu cấp, trụy tim mạch cấp do thủng tim.

Về vật chứng vụ án: Con dao bấm có đặc điểm là cán và lưỡi dao được làm bằng inox máu trắng sáng dài 15cm, lưỡi dao nhọn, sắc một cạnh, rộng khoảng 02cm, Cơ quan Điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra thu giữ và tiêu hủy mẫu máu tử thi Phùng Tấn Đ, chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 1 hiện trường vụ án. Thu giữ và trả lại một chiếc áo thun cổ tròn ngắn tay, màu trắng xám, 01 quần jean ống dài màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen cho Lê Ngọc Th; 01 điện thoại bàn phím, hiệu Nokia, Model: TA-1174; 01 xe mô tô biển số: 51U6-8108 cho chủ sỡ hữu là những vật không liên quan trong vụ án.

Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu Lê Ngọc Th bồi thường tiền chi phí mai táng là 80.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần; cấp dưỡng nuôi cháu Phùng Lý H- sinh ngày 18/12/2006 chưa thành niên đến 18 tuổi, mỗi tháng 1.500.000đ; bồi thường tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi cha mẹ bị hại đến khi mất, mỗi tháng 1.500.000đ/người. Gia đình Th đã bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại số tiền: 40.000.000đ.

* Tại Cáo trạng số 19/CT-VKS-P2 ngày 10/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố Lê Ngọc Th về tội “giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận có ý kiến: Giữ nguyên Quyết định truy tố theo nội dung Cáo trạng số 19/CT-VKS-P2 ngày 10/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bực tức vì bị anh Phùng Tấn Đ đánh bị cáo bằng tay, chân, bị cáo dùng dao đâm vào ngực anh Đ và khi bị vật xuống, lại tiếp tục đâm thêm hai nhát nữa. Bị cáo biết hành vi là nguy hiểm nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Bị cáo có nhân thân xấu, nhưng không sửa đổi, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, tước đoạt tính mạng của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, đầu thú.

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Th phạm tội “giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (BLHS) xử phạt bị cáo Lê Ngọc Th 18 – 19 năm tù.

Về mặt dân sự: Áp dụng Điều 590, 591 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Lê Ngọc Th tiếp tục bồi thường tiền chi phí mai táng còn lại là 40.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần; cấp dưỡng nuôi cháu Phùng Lý H- sinh ngày 18/12/2006 chưa thành niên đến khi đủ 18 tuổi; cấp dưỡng nuôi cha mẹ bị hại là ông Phùng Ngọc Th, sinh năm: 1963 và bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm: 1961 đến khi mất theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến:

Thống nhất theo quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Lê Ngọc Th theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự

Bị hại tấn công bị cáo trước, vì bực tức nên bị cáo dùng dao đâm, gây ra cái chết cho bị hại, bị hại có một phần lỗi. Gia đình bị cáo đã hỗ trợ cho bị cáo bồi thường một phần thiệt hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày ý kiến:

- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị G trình bày ý kiến: Bị cáo mang theo dao, gây ra cái chết cho chồng tôi, đề nghị Tòa xem xét.

- Đại diện hợp pháp của bị hại Ông Phùng Ngọc Th, bà Lê Thị Ngọc H: bị cáo có nhân thân không tốt nhưng không sửa đổi, đề nghị xử lý nghiêm và bồi thường về dân sự.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo có lỗi gây ra cái chết cho bị hại. Mong Tòa xem xét giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Thuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Ngọc Th đã khai nhận: vào tối ngày 14/02/2021 (nhằm ngày mùng 3 Tết Nguyên đán) sau khi đi nhậu, bị cáo chở Phan Văn S về nhà. Khi đến trước nhà anh Phùng Tấn Đ thì bị té xe làm Th và S ngã xuống đường. Anh Phùng Tấn Đ đến đỡ S lên và nói đưa S về thì xảy ra mâu thuẫn với Th, Th chửi nên anh Đ dùng tay tát vào mặt, dùng chân đạp hai cái vào ngực, bụng và bóp vào cổ Th thì bị Th dùng dao bấm nhọn đâm một nhát trúng ngực trái làm thủng màng tim và mõm tim và đâm 02 nhát trúng cẳng tay trái và chân trái làm anh Đ tử vong do shock mất máu cấp và trụy tim mạch cấp do thủng tim.

Lời khai nhận tội của bị cáo được đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời khai người làm chứng, nhận thấy là phù hợp, có đủ căn cứ để xác định: Bị cáo là người đã từng bị phạt tù về hành vi cố ý gây thương tích. Tuy nhiên, vẫn không sửa đổi tính tình, thích sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẩn cá nhân nên thường xuyên mang theo người dao bấm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc cả hai đều có sử dụng rượu, bia, bị cáo dùng dao bấm, sắc, nhọn là loại hung khí nguy hiểm, tước đoạt tính mạng của người khác. Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Ngọc Th về tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo phải đánh giá là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bản tính côn đồ, hung hãn, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử sơ thẩm cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị áp dụng tính tiết định khung “Có tính chất côn đồ” của tội “Giết người” nên không áp dụng tình tiết này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại về dân sự cho gia đình bị hại; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: anh Phùng Tấn Đ tử vong là do hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Tấn Đ.

Xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của Đại diện hợp pháp của bị hại; theo quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015; hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận những khoản chi phí hợp lý sau:

- Chi phí mai táng: 80.000.000đ (theo Bảng kê ngày 18/4/2021 – BL 187), bị cáo đã bồi thường 40.000.000đ, còn lại 40.000.000đ bị cáo đồng ý bồi thường; Đây là sự tự nguyện thỏa thuận, không trái với quy định của pháp luật nên được công nhận.

- Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Phùng Lý H – sinh ngày 18/12/2006, là con chung chưa thành niên của anh Phùng Tấn Đ và chị Nguyễn Thị G. Mức cấp dưỡng hàng tháng là: 1.500.000đ/ tháng, Kể từ thời điểm anh Đ chết (tháng 2 năm 2021) cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi lao động tự túc được.

- Tiền tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Đ gồm: cha, mẹ, vợ và 02 người con (5 người): là 100 lần mức lương cơ sở (1.490.000đ) = 149.000.000đ.

Tổng cộng, buộc bị cáo Lê Ngọc Th có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại về dân sự cho Đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Tấn Đ là 189.000.000đ và có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Phùng Lý H theo hướng nhận định trên.

- Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng đối với ông Phùng Ngọc Th và bà Lê Thị Ngọc H là cha mẹ ruột của bị cáo. Bởi lẽ: Ngoài bị hại Đạt, ông bà còn có những người con khác, những người con này cũng có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ; ông Thành 58 tuổi, bà Hưng 60 tuổi không sống chung với bị hại, vẫn còn có khả năng lao động được và ông Thành, bà Hưng không chứng minh được việc cấp dưỡng của bị hại lúc còn sống.

- Đối với 40.000.000đ của gia đình bị cáo đã bồi thường thay cho bị cáo, tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Th là mẹ của bị cáo không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại nên không xem xét, giải quyết nữa.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao bấm sau khi gây án, bị cáo đã vứt mất, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không tìm được.

Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: về các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp nên được chấp nhận

Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc Th có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền còn phải bồi thường (189.000.000đ x 5% = 9.450.000đ) nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Th phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Th 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2021.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lê Ngọc Th phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Tấn Đ (chị Nguyễn Thị G, anh Phùng Lý Ph, ông Phùng Ngọc Th, bà Lê Thị Ngọc H) số tiền 189.000.000đ (Một trăm tám mươi chín triệu đồng).

Buộc bị cáo Lê Ngọc Th có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chị Nguyễn Thị G nuôi dưỡng cháu Phùng Lý H – sinh ngày 18/12/2006, là con chung chưa thành niên của anh Phùng Tấn Đ và chị Nguyễn Thị G. Mức cấp dưỡng hàng tháng là: 1.500.000đ/tháng kể từ tháng 02 năm 2021 cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi lao động tự túc được.

- Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc Th phải chịu: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 9.450.000đ án phí dân sự sơ thẩm phần nghĩa vụ bồi thường và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 10/9/2021).

Cỡ chữ