- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng L bị truy tố tội "Cưỡng đoạt tài sản" - phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 137 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 18/2021/HSST Ngày: 06-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Lệ Hồng
2. Ông Lê Văn Tỵ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Đông Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2021 đối với:
- Bị cáo: NGUYỄN HOÀNG L, sinh năm 1983; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp Th, xã T, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; Số chứng minh nhân dân: 321305981, cấp ngày 02/10/2010, tại Công an tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1952 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1951; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị M (Tên gọi khác: T), sinh năm 1981. Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự, cụ thể: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 156/QĐ-VPHC, ngày 14/8/2019 của Công an huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (nộp phạt ngày 25/12/2019).
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Châu Bình ((Theo Quyết định thi hành án phạt tù số 28/2021/QĐ-CA, ngày 04/5/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1936; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: ấp Th, xã T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: ấp Th, xã T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn V1, sinh năm 1983; Địa chỉ cư trú: ấp Th, xã T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/8/2019, Nguyễn Hoàng L bị Công an huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính số 156/QĐ-XPHC, với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, chấp hành nộp phạt vào ngày 25/12/2019. Vào khoảng 07 giờ ngày 19/12/2019, Nguyễn Hoàng L điều khiển xe mô tô biển số 71K5-6126 đi bán bánh bao dạo. Khi đi ngang tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị V ở ấp Th, xã T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, bị cáo thấy bà Nguyễn Thị K là mẹ của bà V đang quét nhà, trong nhà không có ai khác nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Bị cáo điều khiển xe quay lại dựng xe cập lộ bê tông trước cửa tiệm, cách khoảng 03m, đầu xe hướng về cầu B. Sau đó, bị cáo xuống xe đi bộ vào tiệm và hỏi bà K “Chị có nhà không” (do trước đây bị cáo có ghé đổ xăng xe và có gặp chủ tiệm là bà V nhưng không biết tên). Bà K trả lời “không có, nó đi chợ rồi”. Bị cáo quan sát thấy trong tiệm có bán bia Tiger (loại thùng giấy) nên nói với bà K về việc ngày hôm qua bị cáo có mua 02 thùng bia Tiger tại tiệm, đã trả tiền cho bà V rồi nhưng chưa lấy, nay bị cáo đến lấy. Bà K không tin nên không chịu giao bia cho bị cáo. Bị cáo giả vờ gọi điện thoại nói chuyện với bà V, sau đó nói với bà K là bị cáo đã gọi điện cho bà V rồi (nhưng thực tế không có gọi, nhằm mục đích cho bà K tin). Tuy nhiên, bà K phát hiện thấy điện thoại của bà V vẫn còn để trong tủ ở tiệm tạp hóa, biết bị cáo thực tế không có gọi cho bà V nên không đồng ý để bị cáo lấy thùng bia đem đi. Do bị cáo thấy bà K không tin, không thể lừa được bà K, nhưng thấy bà K đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, đi lại chậm chạp và ở nhà một mình, không có khả năng giữ lại tài sản nên bị cáo nảy sinh ý định lấy 02 thùng bia Tiger mà không cần sự đồng ý của bà K. Bị cáo thực hiện hành vi đi lại nơi để bia, lấy các đồ vật để trên các thùng bia xuống đất, rồi ôm 02 thùng bia Tiger đi ra để trên baga trước của xe mô tô, rồi lên xe tẩu thoát. Khi bị cáo thực hiện hành vi, bà K cũng đi theo bị cáo để tìm cách giữ tài sản lại nhưng không thực hiện được. Liền lúc này, ông Nguyễn V1, là người ở cách tiệm tạp hóa của bà V khoảng 50m thấy bị cáo ôm thùng bia ra nên mới đi đến, bà K liền nói bị cáo lấy bia nhưng không trả tiền. Thấy vậy, bị cáo liền tăng ga xe định bỏ chạy nhưng bị ông Việt cùng người dân xung quanh khống chế, giữ lại và trình báo với cơ quan công an.
Vật chứng tạm giữ trong vụ án:
- 02 thùng bia Tiger, loại thùng giấy, màu xanh, 24 lon, nồng độ cồn ghi trên bao bì sản phẩm 05%, thể tích lon 330ml, ngày sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm là ngày 16/5/2019, hạn sử dụng đến ngày 16/02/2020.
- Tạm giữ của bị cáo: 01 xe mô tô hai bánh, biển số 71K5-6126, nhãn hiệu Dayang, số máy 150FMG-80322671, số khung DCG0013U-322671, màu nâu, đã qua sử dụng.
Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 02/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mỏ Cày Nam kết luận: 02 thùng bia Tiger có đặc điểm như trên theo đơn giá 330.000 đồng/thùng, thành tiền 660.000 đồng/02 thùng.
Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và tang vật thu giữ. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam trả lại cho bà V. Xe mô tô có đặc điểm như trên được tiếp tục tạm giữ. Quá trình điều tra, bà V là người đại diện hợp pháp của bà K đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu nào khác.
Tại Bản cáo trạng số: 16/CT-VKSMCN, ngày 29 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã truy tố trước Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Hoàng L giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, truy tố và thừa nhận hành vi đã thực hiện theo nội dung bản cáo trạng.
Tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của người bị hại, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra, truy tố.
Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu quan điểm về vụ án, cho rằng: Việc truy tố hành vi của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bảo lưu toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 172; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST, ngày 29/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị ghi nhận bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại cho bà V 02 thùng bia Tiger có đặc điểm như trên, đề nghị ghi nhận.
Vật chứng khác của bị cáo: 01 xe mô tô hai bánh, mục đích chính bị cáo sử dụng để đi bán bánh bao dạo, nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Qua lời khai của bị cáo, kết hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa nên đủ cơ sở kết luận:
Người làm chứng là ông Nguyễn V1 vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng đã có lời khai cụ thể, r ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Hoàng L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ sức khỏe để lao động; mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản (chưa chấp hành nộp phạt tại thời điểm phạm tội) nhưng với động cơ tư lợi cá nhân nên khoảng 07 giờ ngày 19/12/2019, tại ấp Th, xã T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi vào tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị V với ý định chiếm đoạt tài sản, bị cáo lợi dụng tình trạng người quản lý, trông coi tài sản là bà Nguyễn Thị K lớn tuổi, nhiều bệnh, sức khỏe yếu, đi lại chậm chạp, không đủ khả năng bảo vệ tài sản đang quản lý nên bị cáo đã công nhiên chiếm đoạt tài sản là 02 thùng bia Tiger (tài sản thuộc quyền sở hữu của bà V nhưng do bà K được bà V giao quản lý, trông coi tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt). Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 660.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.
. Tuy nhiên, trong lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; trong quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo thật thà khai báo; tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên.
. Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Hoàng L có nhân thân không tốt, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 156/QĐ-VPHC, ngày 14/8/2019 của Công an huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, nộp phạt ngày 25/12/2019, chưa được xóa tiền sự. Mặc khác, vào ngày 29/3/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xử lý hình sự cũng với hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác (Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST, ngày 29/3/2021), hiện bị cáo thực hiện chấp hành án từ ngày 10/5/2021 (Theo Thông báo về việc tiếp nhận người bị kết án phạt tù đến nơi chấp hành án số 20/TB, ngày 10/5/2021 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre). Vì vậy, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn c th ị phạt ti n t
0 đồng đ n
đồng”. Xét thấy, bản thân bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm, không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại cho bà Nguyễn Thị V 02 thùng bia Tiger có đặc điểm như trên nên ghi nhận.
Vật chứng khác của bị cáo: 01 xe mô tô hai bánh có đặc điểm như nêu trên, mục đích chính bị cáo sử dụng để đi bán bánh bao dạo, nên trả lại cho bị cáo.
. Về nghĩa vụ chịu tiền án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 172; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST, ngày 29/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 (mười tám) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2021.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015: Ghi nhận bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm, không xem xét.
[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã trả lại cho bà Nguyễn Thị V 02 thùng bia Tiger, loại thùng giấy, màu xanh, 24 lon, nồng độ cồn ghi trên bao bì sản phẩm 05%, thể tích lon 330ml, ngày sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm là ngày 16/5/2019, hạn sử dụng đến ngày 16/02/2020.
Tuyên trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô hai bánh, biển số 71K5-6126, nhãn hiệu Dayang, số máy 150FMG-80322671, số khung DCG0013U-322671, màu nâu, đã qua sử dụng.
[4]. Về nghĩa vụ chịu tiền án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Nôi nhaän :
| - TAND tỉnh B n Tre; - VKSND huyeän Moû Caøy Nam; - Coâng an huyeän Moû Caøy Nam; - Chi cuïcTHADS huyeän Moû Caøy Nam; - Sôû Tö phaùp; - Bò caùo; Đại diện hợp pháp ị hại; Người c quy n lợi, nghĩa vụ liên quan; - Löu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Đỗ Thúy Hằng |