- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật TTHS; Điều 136 Bộ luật TTHS
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:18/2021/HSST Ngày: 06/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Vũ Văn Nga
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Ngọc Tính
2. Ông: Phạm Văn Tần
- Thư ký phiên toà: Ông Trinh Minh Chữ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm thuỷ tham gia phiên toà:
Bà: Cao Thị Hồng – kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2021 tại hội trường TAND huyện C. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2021/HSST, ngày 22/01/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Ch; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/5/2001; Nơi sinh: Xã Thạch Cẩm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi cư trú: Thôn X, xã Th huyện Th, tỉnh Thanh Hóa;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12
Họ tên bố: Nguyễn Văn B – SN 1976
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ch – SN: 1979
Hiện đều trú tại: Thôn X, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa;
Gia đình bị cáo có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình
Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày 06/6/2019 thì Nguyễn Văn Ch chưa có tiền án, tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi, ngày 25/6/2019 Nguyễn Văn Ch đã cùng đồng bọn thực hiện hành vi Cướp tài sản và Trộm cắp tài sản tại huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng. Ngày 27/11/2019 TAND huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng tuyên phạt Nguyễn Văn Ch 05 (năm) năm tù.
Hiện nay bị cáo Nguyễn Văn Ch đang chấp hành án phạt tù tại đội 12, Phân trại số 04, Trại giam Ngọc Lý, Cục C10, Bộ Công An, theo bản án số 41/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng.
- Bị hại: Anh Nguyễn Nhất Đ, sinh năm 02/03/2003.
.
Trú tại: Tổ dân phố Dương Đình Huệ, thị trấn Ph, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn L - Trú tại: Thôn Thuần Lương, xã Cẩm Tú, huyện C, Thanh Hóa.
2. Anh Đỗ Văn Hiện. Trú tại: Thôn Thành Long, xã Cẩm Thành, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
3. Anh Trương Phú H. Trú tại: Thôn Bắc Sơn, xã Cẩm Tú, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
4. Anh Bùi Văn Tài -Trú tại: Thôn Nhất, xã Thạch L, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
5. Anh Nguyễn Văn Thụ - Trú tại: Thôn xã Cẩm Phong, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
6. Anh Trương Văn Ngọc - Trú tại: Thôn Bắc Sơn, xã Cẩm Tú, huyện C, Thanh Hóa.
Đều vắng mặt không có lý do.
7. Anh Nguyễn Văn Thắng – Trú tại Thôn D, thị trấn Ph, huyện C. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 06/6/2019 Nguyễn Văn Ch trú tại thôn Xuân Long, Thạch Cẩm, Thạch Thành, Thanh Hóa đến quán Internet “Game khủng” để chơi. Tại đây Ch gặp anh Nguyễn Nhất Đ trú tại thôn D, thị trấn Ph, Cẩm Thủy và anh Trương Phú H, trú tại thôn B, xã Cẩm T, huyện C đang chơi Game tại đây, Ch nhờ anh Đ đưa Ch về nhà, Đ nói không có xe mà đi nhờ với H, thì Ch nói với Đ mượn xe của H đưa Ch về nhà. Anh Đ đồng ý nên đã mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150 màu đỏ - đen, BKS: 36L1- 152.12 của anh H để chở Ch về. Khi Đ dắt xe ra cổng quán Internet, Ch nói với anh Đ để Ch cầm lái, Đ đồng ý cho Ch cầm lái, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đ, thị trấn Ph Ch nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe nên đã nói dối anh Đ là cho mượn xe để đi về nhà lấy quần áo, còn Đ xuống xe đứng ở bên đường chờ. Khi lấy được xe Ch đi thẳng ra hướng huyện Th. Trên đường đi đến khu vực xã C, Cẩm Thủy Ch gặp Nguyễn Văn L SN 1986 trú tại thôn Thuần Lương, Cẩm Tú, Cẩm Thủy nên rủ L đi cùng. Ch đi xe mô tô còn L đi xe ô tô ra quán Karaoke Huynh Đệ tại thôn Ph, xã Thạch Q, huyện Th của anh Nguyễn Văn Th trú tại thôn Yên Kh, xã Thạch B, huyện Th. Tại đây Ch nói dối anh Th là xe của nhà mình và cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Th lấy 3.000.000đ (ba triệu đồng), vài ngày sau Ch nhờ L chở ra nhà anh Th lấy thêm 4.000.000đ (bốn triệu đồng), số tiền này Ch lấy để tiêu dùng cá nhân. Anh Đ đứng chờ khoảng hơn một giờ đồng hồ không thấy Ch quay lại nên đã đi bộ về quán internet game khủng ở thôn D, xã C và bảo anh H gọi điện cho Ch nH Ch không nghe máy, sau đó anh Đ và anh H đi bộ về nhà. Quá trình Ch lấy xe đi rồi cầm cố, anh Đ đã nhiều lần gọi điện thoại để hỏi Ch nói dối là đang sử dụng để đi, sau đó Ch tắt máy điện thoại, không thấy Ch trả chiếc xe mô tô nêu trên nên anh Đ đã trình báo Công an để giải quyết theo quy định.
Sau khi cho Ch cầm cố xe mô tô anh Thụ đã bán cho anh Bùi Anh T trú tại Thạch L, huyện Th, Thanh Hóa với giá 12.000.000đ. Khoảng tháng 10/2019 gia đình anh Đ đã cùng gia đình anh H đến chuộc lại chiếc xe từ anh T với giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)..
Theo báo cáo của bị hại anh Nguyễn Nhất Đ, ngày 06/06/2019 tại quán game khủng thôn D, xã Cẩm Phong, Nguyễn Văn Ch đã nhờ anh đưa Ch về nhà, do không có xe nên anh Đ đã mượn chiếc xe mô tô BKS 36 – L1 152-12 của anh Trương Phú H trú tại thôn B, xã C, huyện C để đưa Ch về, Ch là người điều khiển xe, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đ, thị trấn Ph, Ch nói với anh Đ là xuống xe chờ Ch đi về nhà lấy quần áo, anh Đ đồng ý xuống xe chờ Ch hơn một giờ đồng hồ không thấy Ch quay lại, đồng thời gọi điện cho Ch không được nên đã đi về nhà.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận 01 (một) xe mô tô nêu trên có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
*Về vật chứng và xử lý vật chứng
Quá trình kiểm tra, xác minh Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu đỏ - đen, BKS: 36L1- 152.12 của anh Trương Phú H trú tại thôn Phú Sơn, xã Cẩm Tú, huyện C. Ngày 24/7/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu anh Trương Phú H 01 chiếc xe nêu trên.
*Về dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Nhất Đ yêu cầu Nguyễn Văn Ch bồi thường số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) gia đình anh cùng anh H chủ xe chuộc lại chiếc xe mà Ch cầm cố
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSCT- SH, ngày11/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ đã quyết định truy tố: Nguyễn Văn Ch về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 - BLHS.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51-BLHS năm 2015, lên mức án đối với bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt còn lại (38 tháng 19 ngày tù) của bản án số 41/2019/HSST, ngày 27/11/2019 của TAND huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án.
Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền chuộc lại chiếc xe máy bị cáo chiếm đoạt là 15.000.000đ, tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường được 5.000.000đ, buộc phải bồi thường số tiền còn lại là 10.000.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hiện nay bị cáo đang chấp hành án tại đội 12, phân trại số 4 traị giam Ngọc ly – Cục C10 Bộ công an, với mức án 5 năm tù tính từ ngày 25/06/2019 đến nay bị cáo đã thụ hình được 21 tháng 11 ngày tù. Bị cáo chưa được giảm án lần nào, nay bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đ số tiền 15.000.000đ, tại phiên tòa bị cáo bồi thường trước 5.000.000đ, số tiền còn lại sau khi án có hiệu lực bị cáo sẽ vay bố mẹ bồi thường tiếp.
Người làm chứng, người bị hại đều có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và nội dung cáo trạng. Tại phiên tòa người bị hại ( anh Đ) đã nhận số tiền bị cáo bồi thường 5.000.000đ. Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp vời nội dung bản cáo trạng và lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt người làm chứng: Xét thấy trong quá trình điều tra, người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, xét thấy cần thiết để làm rõ hành vi của các bị cáo sẽ được công bố tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
3]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 06/06/2019 tại Thôn Đ, Thị trấn Ph, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Nguyễn Văn Ch đã nhờ anh Nguyễn Nhất Đ mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu đỏ - đen, BKS: 36L1- 152.12 của anh Trương Phú H để chở Ch về nhà, sau khi mượn được xe máy, Ch điều khiển xe trên đường lai Đ đi về nhà, Ch đã có hành vi gian dối bảo anh Đ xuống xe máy đứng đợi bị cáo về nhà nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe máy nêu trên đi cầm cố để lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Trị giá chiếc xe mô tô nêu trên tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Viện kiểm sát huyện C đã truy tố bị cáo Ch về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174. Hội đồng xét thấy là có cơ sở đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sở hữu hợp pháp của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập, đối với hành vi của anh Nguyễn Văn L là người đã cùng bị cáo Ch đi cầm cố chiếc xe máy, cùng Ch đến lấy thêm tiền và cùng được tiêu sài, tuy nhiên mọi giao dịch đều do Ch đứng ra thực hiện, bản thân L cũng không biết chiếc xe đó là do Ch phạm tội mà có nên chưa đủ căn cứ xử lý đối với L. Bị cáo là 1 thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nH không chịu khó làm ăn, ngay từ lúc mới 15 tuổi bị cáo đã có hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác bị phạt cảnh cáo. Do vậy, cần phải lên với bị cáo một mức án nghiêm khắc là cần thiết, để bị cáo tiếp tục cải tạo và tổng hợp hình phạt còn lại của bản án số 41/2019/HSST, ngày 27/11/2019 của TAND huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng bị cáo phải chấp hành là 5 năm tù, tính từ ngày 25/6/2019, đến thời điểm xét xử ( ngày 06/4/2021) bị cáo đã chấp hành được 21 tháng 11 ngày, còn phải chấp hành 38 tháng 19 ngày tù theo quy định tại Điều 56 – BLHS năm 2015 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án. Bị cáo chưa được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo về hành vi tội của mình và tại phiên tòa đã bồi thường được một phần thiệt hại được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
Trong vụ án này, đối với hành vi của anh Nguyễn Văn Th khi cho Ch vay tiền và để lại chiếc xe đã bị Ch nói dối đó là xe nhà mình và không biết đó là xe do Ch vi phạm mà có nên cũng chưa đủ căn cứ xử lý đối với Th.
. Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 10.000.000đ theo quy định tại Điều 584, 585 và 589 – BLDS .
[ 7] Về vật chứng: Ngày 24/7/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu anh Trương Phú H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu đỏ - đen, BKS: 36L1- 152.12. Xét thấy đúng pháp luật..
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 – BLHS;
Xử phạt : Nguyễn Văn Ch 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt tù của của bản án số 41/2019/HSST, ngày 27/11/2019 của TAND huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng là 5 năm tù, tính từ ngày 25/6/2019, đến thời điểm xét xử ( ngày 06/4/2021) bị cáo đã chấp hành được 21 tháng 11 ngày, còn phải chấp hành 38 tháng 19 ngày tù buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 56 tháng 19 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2021.
Về dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng hinh sự; Điều 585; 589 - Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi cho anh Nguyễn Nhất Đ tổ dân phố D, thị trấn Ph, huyện C số tiền 10.000.000đ ( Mười triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Đ có đơn đề nghị thi hành án. Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành, nếu bị cáo không thi hành số tiền trả cho anh Thắng, thì phải phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả, theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Bị cáo Ch phải chịu 200.000đ án phí HSST và 500.000đ án phí DSST.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:
| - BÞ c¸o; - Bị hại; - C«ng an huyÖn C; - VKSND huyÖn C; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Chi côc THADS huyÖn C; - Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa (P. 7) - Lưu hå s¬ vô ¸n. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vũ Văn Nga |