vanban.org

Bản án 18/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ayun Pa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 13/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Rcom YaK, Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Phạt bị cáo Rcom YaK 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Phạt bị cáo Trịnh Việt Đ 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Rcom Ya K cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Rcom YaK, Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AYUN PA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HS-ST
Ngày: 13-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Công và ông Ngô Bảo Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Như Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/QĐXXST-HS ngày 10/6/2021 đối với các bị cáo:

1. Rcom Y, sinh năm 1993 tại thị xã A, tỉnh G; nơi cư trú: Tổ dân phố 10, phường Đ, thị xã A, tỉnh G; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpă N và bà Rcom H’ Đ, có vợ là Phạm Hồng H và 02 con, lớn nhất sinh năm 2016 nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/5/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 13/5/2015 chấp hành xong hình phạt. bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Trịnh Việt Đ, sinh năm 1995 tại thị xã A, tỉnh G; nơi cư trú: Số 23 V, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Thành H và bà Nguyễn Thị Hồng V; tiền án: tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/10/2017, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

3. Nguyễn Kế T, sinh năm 1989 tại E, tỉnh Đ; nơi cư trú: Số 09 Tăng Bạt H, tổ dân phố 9, phường Đ, thị xã A, tỉnh G; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kế Q và bà Kiều Thị Kim A; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Bị hại: Anh Hồ Minh H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn 1, xã D, huyện Ea, tỉnh Đ. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn 1, xã Dliê Yang, huyện E, tỉnh Đ. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Chị Phạm Hồng H, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ dân phố 10, phường Đoàn Kết, thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào buổi trưa ngày 21/11/2020, Rcom Y khi xác định vợ mình có quan hệ tình cảm với Hồ Minh H (là tài xế xe tải thường xuyên chạy cát, đá tuyến Đ– Ayun Pa), Rcom Y đã kể cho Nguyễn Kế T biết, đồng thời rủ T đi gặp H để nói chuyện dằn mặt và được T đồng ý. K sử dụng điện thoại của vợ mình nhắn tin qua tài khoản Zalo hẹn gặp H ở đường Hùng V thuộc tổ 3, phường S thị xã A để nói chuyện. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, biết được Hưng đang ở đường Hùng Vnhư đã hẹn, K điện thoại cho T, T dặn K chỉ đánh bằng tay chân. Sau đó, K điện thoại tiếp cho Trịnh Việt Đ nói Đ đến nhà mình có việc. Khi Đ đi đến nhà K, thấy K cầm trên tay một con dao rựa, Đ hỏi “đi đánh nhau với ai à”, K đưa dao rựa cho Đ và nói “em cầm dùm anh, đây là việc riêng để anh tự giải quyết” rồi điều khiển xe mô tô hiệu NouVo biển kiểm soát 81M1-01337 (xe của Rcom H’Djiêm, là chị ruột Rcom Y) chở Đ đi được khoảng 100m thì gặp T điều khiển xe mô tô hiệu SH biển kiểm soát 81M1-075.10 chạy đến. Thấy K và Đ mang theo dao rựa, T tiếp tục nói K chỉ được đánh bằng chân tay, K trả lời “dạ em biết rồi”. Sau đó, tất cả chạy xe ra đường Hùng V và thấy có 01 xe ôtô tải biển kiểm soát 47C - 207.83 do Nguyễn Ngọc D (sinh năm 1989, trú tại thôn 1, xã D, huyện E, Đắk Lak) cầm lái còn Hồ Minh H ngồi bên phụ đang dừng sát lề đường. K và T cho xe vượt lên trước xe ô tô, T dựng xe bên phụ cách đầu xe tải khoảng 02m rồi đến cửa phụ nói với H: “xuống nói chuyện đàng hoàng chứ không nó chém” còn K dựng xe của mình trên lề, cách xe tải khoảng 05m rồi đến dắt xe của T dựng chặn ngang đầu xe tải. Sau đó, K chỉ tay về phía tài xế nói “đây không phải là việc của ông, ông ngồi im” rồi gọi H xuống xe. H nói K hiểu lầm và không xuống. K trèo lên xe túm cổ áo H kéo xuống nhưng H giật ra lùi người về sau ghế phụ nhưng chân phải vẫn đang để trên ghế. K nhảy xuống và giật lấy con dao từ tay Đ khi đó đang đứng sát cửa phụ xe ô tô rồi tiếp tục trèo lên chui nửa người vào trong xe, dùng dao rựa chém vào vùng mắt cá trong chân phải của H. Thấy Kơ chém H nên T đã ôm vào phần hông của K kéo xuống đất làm con rựa trên tay K đã quơ trúng vào vùng cổ T gây xây xước da. Lúc này H la lên nói D chạy xe đi, D liền điều khiển xe ô tô chạy thẳng và cuốn theo xe mô tô hiệu SH MORE biển kiểm soát 81M1-075.10 vào gầm xe, kéo lê trên đường Hùng V khoảng 300m thì xe mô tô bị văng ra khỏi gầm xe. D tiếp tục điều khiển xe chạy cho đến khi gặp lực lượng cảnh sát giao thông thì dừng lại trình báo sự việc. Hồ Minh H được đưa đi cấp cứu may vết thương và điều trị tại Trung tâm Y tế thị xã Ayun Pa.

Tại bản Kết luận giám định số 269/20/TgT ngày 15 tháng 12 năm 2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Gia Lai kết luận: Hồ Minh H có một sẹo vết thương phần mềm mặt trong mắt cá chân phải kích thước (8 x 0,2)cm, sẹo liền. Vỡ mắt cá trong chân phải gây hạn chế vận động khớp cổ chân phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 15% (Mười lăm phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA NOUVO biển số 81M1-017.37, số máy: 1DB1078156, số khung BD10CY078182; 01 đăng ký xe mô tô hiệu YAMAHA NOUVO biển kiểm soát 81M1-017.37, số máy: 1DB1078156, số khung: BD10CY078182 đứng tên Rcom H’D;

- 01 xe ôtô biển kiểm soát 47C- 207.83;

- 01 xe mô tô HONDA SH MORE, biển kiểm soát 81M1 -075.10 bị hư hỏng hoàn toàn;

- 01 Giấy phép lái xe hạng C cấp ngày 21/7/2017 mang tên Nguyễn Ngọc D;

- 01 cây rựa dài 71cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 38cm có điểm rộng nhất 4,2cm, mũi rựa cong, cán rựa bằng tre dài 33cm, đường kính cán rựa 2,8cm.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ayun Pa đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản gồm: 01 xe tải biển kiểm soát 47C-207.83 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Cao Thanh P; 01 Giấy phép lái xe hạng C cấp ngày 21/7/2017 cho Nguyễn Ngọc D; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA NOUVO biển kiểm soát 81M1- 017.37, số máy 1DB1078156, số khung BD10CY078182 và đăng ký xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Rcom H’D.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo Rcom YaK, Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T đã bồi thường cho anh Hồ Minh H số tiền 6.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng. Anh Hồ Minh H không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với tất cả 03 bị cáo. Áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T.

Đề nghị xử phạt bị cáo Rcom YaK từ 30 đến 36 tháng tù; xử phạt bị cáo Trịnh Việt Đ từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Kế T từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng. Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND phường Đoàn K, thị xã A giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 cây rựa dài 71cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 38cm có điểm rộng nhất 4,2cm, mũi rựa cong, cán rựa bằng tre dài 33cm, đường kính cán rựa 2,8cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 21/11/2020, bị cáo Rcom YaK phát hiện ra vợ mình là Phạm Hồng H có quan hệ tình cảm với anh Hồ Minh Hnên vào khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, YaK đã rủ Nguyễn Kế T và Trịnh Việt Đ đi cùng với YaK đi gặp anh Hồ Minh H để đánh dằn mặt. Khi đi, bị cáo YaK đã mang theo hung khí là 01 con dao rựa và đưa cho bị cáo Trịnh Việt Đ cầm dao. Khi gặp được anh H tại khu vực đường Hùng V, thị xã A, bị cáo YaK đã dùng dao rựa chém 01 nhát vào mắt cá chân của anh H gây thương tích tổn thương cơ thể 15% (Mười lăm phần trăm). Các tình tiết khác của vụ án đúng như nội dung cáo trạng đã xác định.

Các bị cáo đều nhận thức được sức khỏe, tính mạng của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ. Việc xâm hại đến sức khỏe người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị. Trong vụ án này, bị cáo YaK khi biết rõ mối quan hệ giữa vợ mình và bị hại đã không lựa chọn cách xử sự đúng mực mà lại rủ đồng bọn là Đ và T hỗ trợ để đi đánh dằn mặt bị hại bằng hung khí. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, gây tổn hại sức khỏe và tinh thần của bị hại, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ các quy định hiện hành của pháp luật hình sự thì tính chất, mức độ của tội phạm và hung khí các bị cáo đã sử dụng để gây thương tích cho bị hại Hồ Minh H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều, khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đây là vụ án đồng phạm, ở hình thức giản đơn, các bị cáo không có sự phân công vai trò cụ thể nhưng đều có ý thức chấp nhận toàn bộ hậu quả do đồng bọn của mình gây ra. Vai trò của các bị cáo thể hiện cụ thể như sau:

Đối với bị cáo Rcom YaK: Bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, đồng thời là người thực hành đã trực tiếp sử dụng dao rựa chém gây thương tích cho anh Hồ Minh H. Hậu quả đã làm cho bị hại bị thương tích tổn hại 15% sức khỏe. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là người thực hành chính trong vụ án này.

Đối với bị cáo Trịnh Việt Đ: Khi được Rcom YaK rủ đi giải quyết công việc cho YaK nhưng có cầm theo hung khí là dao rựa nên bị cáo biết rõ sẽ đi đánh nhau với người khác. Bị cáo đã đồng ý cùng đi và trực tiếp cầm dao cho YaK. Khi tiếp cận bị hại, YaK giật dao từ tay của bị cáo để chém gây thương tích cho bị hại. Vì vậy bị cáo phải chịu chung hậu quả do đồng bọn gây ra với vai trò của người giúp sức trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Kế T: Bị cáo được bị cáo YaK rủ đi đánh bị hại để dằn mặt. Ban đầu bị cáo thống nhất với Ya K chỉ đánh bị hại bằng tay chân. Tuy nhiên khi đi gặp bị hại, thấy YaK và bị cáo Đ có mang theo hung khí bị cáo không có hành động can thiệp dứt khoát việc không sử dụng hung khí. Mặt khác, khi gặp bị hại, bị cáo còn có lời nói đe dọa bị hại nếu không xuống xe nói chuyện với bị cáo YaK sẽ bị chém. Hành vi của bị cáo đã mặc nhiên chấp nhận việc sử dụng hung khí của đồng bọn nên phải chịu trách nhiệm hình sự chung với bị cáo YaK về hậu quả đã xảy ra với vai trò của người giúp sức.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo Rcom YaK đã từng bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt và đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo Nguyễn Kế T có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật và bị xử lý. Bị cáo Trịnh Việt Đ đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính từ ngày 28/10/2017. Bị cáo đã chấp hành xong việc xử phạt và qua nhiều năm không có vi phạm pháp luật gì khác. Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Sau khi vụ việc xảy ra đã cùng nhau tự nguyện bồi thường cho bị hại Hồ Minh H 6.000.000 đồng (Mỗi bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng) để chi phí cho việc điều trị thương tích, khắc phục hậu quả do các bị cáo gây ra. Bản thân bị hại H cũng nhận thức được mình có lỗi trong vụ án này nên đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Với các nội dung nói trên, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Kế T, mặc dù đồng ý đi giúp bị cáo YaK đánh bị hại H. Tuy nhiên, khi phát hiện bị cáo YaK chém bị hại trên ca bin xe ô tô đã chủ động ôm kéo YaK xuống mặt đất, nhằm không để YaK gây thương tích cho bị hại thêm nữa. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ tích cực trong việc ngăn chặn làm giảm bớt thiệt hại do đồng bọn có thể tiếp tục gây ra nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T theo điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt và biện pháp xử lý cần áp dụng đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên mức hình phạt đề nghị đối với từng bị cáo có phần nghiêm khắc. HĐXX xét tính chất, mức độ của tội phạm thấy rằng đối với bị cáo Rcom YaK cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục. Các bị cáo Trịnh Việt Đ, Nguyễn Kế T tham gia với vai trò là người giúp sức trong vụ án, mức độ tham gia không đáng kể, cả hai bị cáo đều không trực tiếp gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt hai bị cáo này mức án dưới khung hình phạt. Hiện tại cả hai bị cáo này đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và đủ điều kiện để tự cải tạo, giáo dục nên căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, mà xử phạt tù nhưng cho hai bị cáo hưởng án treo và giao về cho UBND phường nơi các bị cáo đang thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Minh H không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng đã xử lý là 01 xe tải biển kiểm soát 47C-207.83 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Cao Thanh P và 01 Giấy phép lái xe hạng C cấp ngày 21/7/2017 cho Nguyễn Ngọc Dũng; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA NOUVO biển kiểm soát 81M1- 017.37, số máy 1DB1078156, số khung BD10CY078182 và đăng ký xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Rcom H’Djiêm. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ayun Pa đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Vật chứng chưa được xử lý là 01 cây rựa dài 71cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 38cm có điểm rộng nhất 4,2cm, mũi rựa cong, cán rựa bằng tre dài 33cm, đường kính cán rựa 2,8cm. Xét thấy đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội hiện không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc D đã điều khiển xe tải biển kiểm soát 47C- 207.83 bỏ chạy đã để xe lao thẳng và cuốn theo xe mô tô hiệu SH biển kiểm soát 81M1-075.10 vào gầm làm hư hỏng hoàn toàn, thiệt hại 38.500.000đ (Ba mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của Nguyễn Ngọc D đang được điều tra làm rõ và được giải quyết bằng một vụ việc khác nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã Ayun Pa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Rcom YaK, Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo;

- Căn cứ khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T.

Tuyên xử:

- Phạt bị cáo Rcom YaK 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

- Phạt bị cáo Trịnh Việt Đ 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/7/2021.

- Phạt bị cáo Nguyễn Kế T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/7/2021.

Giao các bị cáo Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T cho Ủy ban nhân dân phường Đoàn Kết, thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy 01 cây dao rựa dài 71cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 38cm có điểm rộng nhất 4,2cm, mũi rựa cong, cán rựa bằng tre dài 33cm, đường kính cán rựa 2,8cm.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17/5/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ayun Pa và Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa)

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 21, Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Rom YaKơ, Trịnh Việt Đ và Nguyễn Kế T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/7/2021 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ