- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A T - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải.
Thẩm phán:
Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Đào;
Bà Trần Thị Nga;
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Sồng A T, sinh ngày 04/5/2001, tại huyện M1, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sồng A T1 (đã chết) và bà Thào Thị M; bị cáo chưa có vợ, con (sống chung như vợ chồng với chị Tráng Thị D1); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam ngày 02/6/2021 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Văn T3, Luật sư của Văn phòng Luật sư Đỗ T3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Thào Thị M, sinh năm 1981. Nơi ĐKHKTT: Bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T4. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thào Thị M: Chị Sồng Thị P, tên gọi khác: Sồng Thị C1, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Bản C2, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
+ Chị Mùa Thị D, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ ngày 02/6/2021, Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M1 làm nhiệm vụ tại khu vực bản S, xã M2, huyện M1, tỉnh Sơn La phát hiện 03 đối tượng nam giới có dấu hiệu mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì 02 đối tượng bỏ chạy vào rừng, còn 01 đối tượng chạy theo hướng bản C, xã D2, huyện M1 đã ném 01 túi nilon màu trắng (nghi chứa ma túy) vào bụi cây ven đường. Tổ công tác truy đuổi khoảng 20m thì bắt được đối tượng Sồng A T và yêu cầu T nhặt túi nilon màu trắng vừa ném vào bụi cây ven đường để giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sồng A T.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 01 túi nilon màu đen có quấn băng dính trắng, tiếp đến là lớp giấy bọc màu trắng, lớp giấy bọc màu vàng, bên trong có 11 túi nilon gồm 09 túi màu xanh, 02 túi màu hồng chứa các viên nén màu hồng, Sồng A T khai là hồng phiến; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu tím; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 26P1-091.75; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 26G1-271.06.
Hồi 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M1 thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định đối với số vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Sồng A T xác định: Bên trong 11 túi nilon màu xanh và màu hồng chứa 2.012 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 187,52 gam, trích trong mỗi túi 05 viên, tổng 55 viên có khối lượng 5,12 gam ký hiệu từ T1 đến T11 làm mẫu trưng cầu giám định ma túy; còn lại 1.957 viên có khối lượng 182,40 gam được niêm phong lại theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 1069 ngày 04/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt từ T1 đến T11 là ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 5,12 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 187,52 gam; Loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, Sồng A T khai nhận:
Khoảng 15 giờ ngày 02/6/2021, Sồng A T đang chăn bò tại khu vực nương thuộc địa phận bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La thì có Thào A T2 là cậu ruột của T, sinh năm 1986, trú tại: Bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 26P1-091.75 đến. T2 đặt vấn đề thuê T vận chuyển ma túy từ khu vực bản C, xã D2, huyện M1 đến khu vực bản S, xã M2, huyện M1 với giá 500.000 đồng, T đồng ý. T2 đưa cho T gói nilon màu trắng bên trong có 11 túi nilon chứa ma túy, T cất giấu gói ma túy vào trong cốp xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 26G1-271.06. Sau đó, T2 điều khiển xe máy đi trước, T điều khiển xe máy đi đường tắt sang bản S theo sự chỉ dẫn của T2.
Khi T đến khu vực bản S thì thấy T2 đang đứng cùng một người đàn ông T không quen biết. T lấy gói ma túy trong cốp xe chuẩn bị đưa cho T2 thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên, còn T2 và người đàn ông kia bỏ chạy thoát.
Về nguồn gốc 2.012 viên nén có tổng khối lượng 187,52 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ trong vụ án: Sồng A T khai nhận là của Thào A T2 cậu ruột của T. Kết quả điều tra xác định tại bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La có 01 đối tượng tên Thào A T2 như lời khai của Sồng A T; tiến hành nhận dạng người qua ảnh chân dung kết quả T nhận dạng được T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Thào A T2 nhưng T2 không có mặt tại địa phương.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 122/CTr-VKS-P1 ngày 26/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Sồng A T về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Sồng A T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không khai báo gì thêm.
Chị Sồng Thị P (Sồng Thị C1) là người đại diện theo ủy quyền của bà Thào Thị M xác nhận chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 26G1-271.06 là tài sản hợp pháp của bà Thào Thị M. Bà M hiện đang chấp hành án tại Trại giam T4, không biết việc Sồng A T sử dụng xe máy để thực hiện hành vi phạm tội; bà M cũng không liên quan đến hành vi phạm tội của Sồng A T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho gia đình chị tài sản là chiếc xe máy Sồng A T đã sử dụng và bị tạm giữ trong vụ án.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Sồng A T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Sồng A T 20 (hai mươi) năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 182,40 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định và 01 test thử ma túy đối với Sồng A T. Trả lại cho Sồng A T 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1280; trả lại cho chị Mùa Thị D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 26P1-091.75; trả lại cho bà Thào Thị M, người đại diện theo ủy quyền là chị Sồng Thị P (Sồng Thị C1) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 26G1-271.06 bị tạm giữ trong vụ án.
Về án phí: Do gia đình bị cáo Sồng A T thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Sồng A T nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật phần nào bị hạn chế; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội vì động cơ vụ lợi nhưng toàn bộ số ma túy đã bị phát hiện và thu giữ, không bị phát tán nên phần nào hạn chế tính nguy hiểm cho xã hội; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mở lượng khoan hồng xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 20 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Sồng A T nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
Chị Sồng Thị P (Sồng Thị C1) nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên cấp huyện và cấp tỉnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Tại phiên tòa vắng mặt bà Thào Thị M, chị Mùa Thị D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy, bà Thào Thị M đã ủy quyền cho chị Sồng Thị P (Sồng Thị C1) tham gia tố tụng, chị P có mặt tại phiên tòa nên quyền và lợi ích hợp pháp của bà M không bị ảnh hưởng. Đối với chị Mùa Thị D đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và có đơn xin lại tài sản là chiếc xe máy bị thu giữ trong vụ án nên sự vắng mặt của chị D không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo
Ngày 02/6/2021, tại khu vực bản S, xã M2, huyện M1, tỉnh Sơn La, Sồng A T bị bắt người phạm tội quả tang khi đang vận chuyển 11 túi nilon chứa 2.012 viên nén có tổng khối lượng 187,52 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để được nhận tiền công.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M1 lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 02/6/2021 tại bản S, xã M2, huyện M1, tỉnh Sơn La đối với Sồng A T cùng vật chứng thu giữ là 11 túi nilon bên trong có chứa các viên nén màu hồng nghi là ma túy, loại Methamphetamine;
- Biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 02/6/2021 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M1 xác định bên trong 11 túi nilon thu giữ chứa 2.012 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 187,52 gam, trích trong mỗi túi 05 viên, tổng 55 viên có khối lượng 5,12 gam ký hiệu từ T1 đến T11 làm mẫu trưng cầu giám định ma túy.
- Kết luận giám định số 1069 ngày 04/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt từ T1 đến T11 là ma túy; Loại Methamphetamine;
Tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 5,12 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 187,52 gam; Loại Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Sồng A T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến anh Lữ Văn H, sinh năm 1994, trú tại: Bản S, xã M2, huyện M1, tỉnh Sơn La; phù hợp với lượng ma túy thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Sồng A T đã phạm vào tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt
Bị cáo Sồng A T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện việc vận chuyển trái phép 187,52 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để được hưởng tiền công, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Methamphetamine … có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo Sồng A T thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới bảo đảm biện pháp trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo Sồng A T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính thì bị cáo Sồng A T có thể còn bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự nhưng kết quả điều tra xác định gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về hành vi và các đối tượng có liên quan
Đối với Thào A T2, sinh năm 1986, trú tại: Bản C, xã D2, huyện M1, tỉnh Sơn La: Căn cứ kết quả điều tra, kết quả nhận dạng người qua ảnh của Sồng A T đối với Thào A T2 và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định nguồn gốc 2.012 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 187,52 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ trong vụ án là của Thào A T2. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Thào A T2 nhưng T2 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật sau khi bắt được Thào A T2.
Đối với người đàn ông khoảng 35 tuổi đứng cùng Thào A T2 tại khu vực bản S, xã M2, huyện M1, tỉnh Sơn La: Do Sồng A T không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La xác định không cơ sở để xác minh làm rõ là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về vật chứng
Đối với 182,40 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định ma túy: Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với vỏ gói niêm phong ban đầu và test thử ma túy đối với Sồng A T: Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1280 tạm giữ của Sồng A T: Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 02 chiếc xe máy tạm giữ trong quá trình bắt quả tang đối với Sồng A T: Kết quả điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 26P1-091.75 là tài sản hợp pháp của chị Mùa Thị D; chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 26G1-271.06 là tài sản hợp pháp của bà Thào Thị M. Chị Mùa Thị D và bà Thào Thị M đều có nguyện vọng muốn xin lại tài sản là 02 chiếc xe máy nêu trên. Xét thấy, chị D và bà M không biết việc Sồng A T và Thào A T2 sử dụng xe máy của mình để thực hiện hành vi phạm tội; không liên quan đến hành vi phạm tội của T và T2 nên nguyện vọng của chị D và bà M là hợp pháp, chính đáng, cần chấp nhận.
Về án phí
Gia đình bị cáo Sồng A T thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Sồng A T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Sồng A T 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2021.
2. Về vật chứng
Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 182,40 gam ma túy, loại Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện M1 phát hành còn nguyên niêm phong.
- Test thử ma túy đối với Sồng A T được niêm phong trong một chiếc phong bì do bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong.
2.2. Trả lại cho bị cáo Sồng A T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện M1 phát hành còn nguyên niêm phong.
2.3. Trả lại cho chị Mùa Thị D 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade, màu xanh đen, biển kiểm soát 26P1-091.75, số máy JA36E0844647, số khung RLHJA365XLY002835, xe không có chìa khóa và đã qua sử dụng.
2.4. Trả lại cho bà Thào Thị M, người đại diện theo ủy quyền là chị Sồng Thị P (Sồng Thị C1) 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh đen, biển kiểm soát 26G1-271.06, số máy JA31E0116747, số khung RLHJA3124EY021445, xe đã qua sử dụng.
3. Về án phí
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A T.
4. Về quyền kháng cáo
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2021); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Phòng PC04 - Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sơn La; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Hải |