- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội giết người (Điều 123 BLHS) - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V n H phạm tội “Giết người”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình s; Điều 116 Bộ luật hôn nh n gia đình; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HS-ST Ngày: 15/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước
Các i thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đặng Lộc - Phó ban phụ trách điều hành Ban Thanh thiếu nhi và trường học tỉnh Đoàn Đồng Tháp.
2. Ông Trần Phước Đa - Cán bộ hưu trí.
3. Ông Trần Ngọc Đằng - Cán bộ hưu trí.
- Th ký phiên tòa: Ông Hu nh V n Nh t Minh - Thẩm tra viên T a án nh n d n tỉnh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Bùi V n Thân - i m sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 n m 2021, tại Trụ sở T a án nh n d n tỉnh Đồng Tháp mở phiên t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình s thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 4 n m 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 n m 2021; Quyết định hoãn phiên t a số: 86/2021/HSST-QĐ ngày 21/6/2021; Quyết định hoãn phiên t a số: 104/2021/HSST-QĐ ngày 19/7/2021; Quyết định hoãn phiên t a số: 134/2021/HSST-QĐ ngày 19/8/2021; Quyết định hoãn phiên t a số: 188/2021/HSST-QĐ ngày 17/9/2021 và Quyết định hoãn phiên t a số: 253/2021/HSST-QĐ ngày 15/10/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn V n H, sinh n m 1984, tại thành phố C; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp 4, xã T, huyện C, thành phố C; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: inh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn V n H, sinh n m 1933 và bà Lê Thị B, sinh n m 1943; Sống chung như vợ chồng với: Hu nh Thị Mỹ H, sinh n m 1989; Chưa có con; Bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 08 trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền s : Không; Tạm giữ ngày 23/02/2021; Tạm giam ngày 26/02/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đồng Tháp và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn V n H theo luật định: Luật sư Trần Hà Xu n Phong - Công ty Luật TNHH một thành viên Tuyên Thụy và Cộng S thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp.
- Người bị hại: Trương Thúy S, sinh n m 1976 (chết).
Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
1. Trương V n Q, sinh n m 1949; (Cha của bị hại);
2. Lý Thị N, sinh n m 1949 (Mẹ của bị hại);
3. Nguyễn Thị Ngọc T, sinh n m 1980 (Vợ của bị hại);
4. Trương Hải Đ, sinh n m 2000 (Con của bị hại);
5. Trương hải Đ, sinh ngày 08/11/2005 (Con của bị hại);
Cùng nơi cư trú: Ấp khu 2, xã Thạnh Phú, huyện M, tỉnh S.
Người đại diện hợp pháp cho Trương hải Đ là chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh n m 1980; Nơi cư trú: Ấp khu 2, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh S.
Ông Trương V n Q, bà Lý Thị N, anh Trương Hải Đ cùng ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh n m 1980; Nơi cư trú: Ấp khu 2, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh S theo v n bản ủy quyền ngày 09/3/2021 (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn V n T, sinh n m 1962 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp 4, xã Thới H, huyện Cờ Đ, thành phố Cần T.
- Người làm chứng:
1. Hu nh Thị Mỹ H, sinh n m 1989 (vắng mặt);
2. Hu nh V n T, sinh n m 1976 (vắng mặt);
3. Lê Thị Thanh T, sinh n m 1975 (vắng mặt);
4. Hu nh V n Hoàng H, sinh n m 1998 (có mặt);
5. Hu nh V n Hoàng G, sinh n m 1996 (có mặt);
6. Đặng Thị G, sinh n m 1948 (vắng mặt);
7. Hu nh Vũ L, sinh n m 1997 (có mặt);
Cùng nơi cư trú: ấp 4, xã Bình H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
8. Võ Ngọc T, sinh n m 1987 (có mặt);
Nơi cư trú: Ấp Bình Phú L, xã Bình Hàng T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
9. Hu nh V n Chí C, sinh n m 2002 (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp cho Hu nh V n Chí C là Hu nh Thị Mỹ T, sinh n m 1983; Cùng nơi cư trú: ấp 4, xã Bình H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
10. Phạm V n T, sinh n m 1989 (có mặt);
Nơi cư trú: số 52, khu v c Thới H, pH Long H, quận Ô M, thành phố Cần Thơ.
11. Phạm V n T, sinh n m 1985 (vắng mặt);
Nơi cư trú: khu v c Thới H, pH Long H, quận Ô M, thành phố Cần Thơ.
12. Đào Ngọc N, sinh n m 1976 (vắng mặt);
Nơi cư trú: khu v c Thới H, pH Long H, quận Ô M, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 9 n m 2019, Nguyễn V n H và Hu nh Thị Mỹ H, sinh n m 1989, ngụ: ấp 4, xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tổ chức lễ cưới nhưng không đ ng ký kết hôn. Đến tháng 3/2020, H và H phát sinh mâu thuẫn nên ly thân, H bỏ đến Sóc Tr ng tìm việc làm rồi quen biết với Trương Thúy S, sinh n m 1976, ngụ: ấp khu 2, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Tr ng. H biết được giữa H và S có quen biết nhau nên nhiều lần nhắn tin qua Zalo cho H n n nỉ H quay về sống chung, còn nếu không thì H sẽ giết chết H rồi t tử. Đồng thời, H đã gửi hình ảnh con dao bấm qua Zalo cho H xem đ đe dọa.
Khoảng 09 giờ ngày 22/02/2021, Võ Ngọc T, sinh n m 1987, là anh chú bác ruột của H, gọi điện thoại cho H biết là vợ của T đi chợ gặp H, T kêu H qua n n nỉ H quay lại sống chung, H nói “Đ chiều em qua gặp H”. Đến 17 giờ ngày 22/02/2021, H mượn xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, bi n số 65E1-024.77 của Đào Ngọc N, sinh n m 1976, ngụ: Khu v c Thới H, phường Long H, quận M, thành phố Cần Thơ đ đi đến nhà cha, mẹ ruột của H tại ấp 4, xã Bình H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Theo H khai: hi đi H mang theo con dao bấm đ trong túi áo khoác, con dao màu đen dài khoảng 09cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 07cm, bề rộng khoảng 02cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc bén. H điều khi n xe đi được một đoạn thì dừng lại gọi điện thoại cho Hu nh Vũ L, sinh n m 1997, là em chú bác ruột với H hỏi Linh đi xem H có về nhà không rồi cho H biết. Khoảng 20 phút sau, H gọi điện thoại lại cho L thì L nói H có về nhà đi chung với người tên S, nói xong Linh tắt điện thoại. H điều khi n xe đến bến đ Vườn Hồng thuộc thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, rồi gọi điện thoại cho T đ nhờ T đi cùng H vào nhà H do sợ khi gặp H sẽ xảy ra cải nhau, H sẽ bị em của H đánh, T không đồng ý đi và tắt điện thoại.
Khoảng 21 giờ ngày 22/02/2021, H chạy xe đến nhà của ông Hu nh V n B, sinh n m 1953, là cha ruột của H, H d ng xe trong sân nhà ông B thì nhìn thấy S đang đứng bên hành lang trái nhà của ông B nói chuyện với H. H cho rằng S có quan hệ tình cảm với H nên bước xuống xe chạy đến chửi S và nói “Sao mày dám về nhà ông già vợ tao”, S nói lại “Về thì sao”, H liền đưa tay phải vào túi áo khoác lấy con dao bấm rồi bấm cho lưỡi dao bậc lên, S thấy H cầm dao liền bỏ chạy vào bên trong nhà trước, H không dừng lại mà cầm dao đuổi theo S đến cửa nhà trước thì đuổi kịp S. Lúc này, H và S đứng đối diện cách nhau khoảng 01 mét, H cầm con dao bằng tay phải, mũi dao hướng về trước rồi đưa dao lên cao chém xuống người S 02 đến 03 cái liên tiếp, S đưa hai tay lên đỡ làm tay bị thương. H đứng gần cửa trước nhìn thấy H chém S nên la lên “H ơi! H ơi” đ cho H dừng lại rồi mở cửa trước đ S chạy thoát ra ngoài. H thấy S bỏ chạy liền cầm dao đuổi theo, S chạy đến trước cổng rào nhà ông Hu nh V n H (cách nhà ông B 50 mét) thì dừng lại, H cũng dừng lại cách S khoảng 20 mét. S nói với H “Mày nhớ chém tao nghe H”, H tiếp tục cầm dao đuổi theo S đến bên hông nhà trái của ông H thì đuổi kịp, H và S giằng co với nhau, H cầm dao bằng tay phải đ m vào vùng ng c trái và đ m nhiều cái vào đùi của S. Lúc này, bà Đặng Thị G đi ra thấy hai người đang giằng co nhau, bà G nói “Gì vậy b y” nên H cầm dao bỏ đi ra trước của nhà của ông H thì H gặp Hu nh Thanh T và Hu nh V n Hoàng H chạy đến đ can ng n nhưng không kịp. H cầm dao đi về nhà ông B lấy xe chạy về Cần Thơ lẫn trốn trên đường đi H đã ném bỏ con dao gây án tại khu v c ấp AB, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, còn S được mọi người xung quanh đưa đi cấp cứu nhưng S đã tử vong.
Sau khi gây án, H đến nhà anh Phạm V n T, sinh n m 1989, là cháu ruột của H, ngụ: khu v c Thới Hòa B, pH Thới H, quận M, thành phố Cần Thơ đ lẫn trốn nhưng H không nói cho T biết việc đã đ m S. Khoảng 13 giờ ngày 23/02/2021, H mượn điện thoại di động của Phạm V n T, sinh n m 1985, là cháu ruột của H, ngụ: Khu v c Thới Hòa B, pH T, quận M, thành phố Cần Thơ đ nhắn tin qua Facebook cho L hỏi th m về tình trạng sức khỏe của S, L cho biết S đã tử vong và động viên H nên đi đầu thú. Đến 18 giờ cùng ngày, H đến Công an pH Long H, quận M, thành phố Cần Thơ đầu thú và khai nH toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối với con dao gây án, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 222/KL-KTHS ngày 26/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình s Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
* Dấu hiệu chính qua giám định:
- Bị đa vết thương do vật sắc bén tác động vào nhiều vùng trên cơ th .
- Thủng phổi gây tràn khí, tràn máu khoang lồng ng c trái.
* Nguyên nhân chết: Ông Trương Thúy S, sinh n m 1976, bị đa vết thương do vật sắc bén tác động vào nhiều vùng trên cơ th gây mất máu cấp. Trong đó có vết thương xuyên thấu ng c làm thủng phổi là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong.
Hiện trường xảy ra vụ án tại nhà của ông Hu nh V n B và nhà của ông Hu nh V n H thuộc tổ 01, ấp 4, xã Bình H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) áo Jean dài tay màu xám; 01 (một) cái nón lưới trai (nón kết) màu trắng, có vết màu n u đỏ ở phần trước mũ lưỡi trai.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân th ngày 25/02/2021 đối với Nguyễn V n H, như sau: Mặt ngoài cẳng tay phải có 02 (hai) vết trầy xướt da, kích thướt mỗi vết 0,1cm x 0,1cm; Vùng trầy xướt da ở gối phải kích thướt 05cm x 03cm. H khai các vết thương trên do xô xát với S tạo nên.
Tại biên bản nH dạng qua ảnh ngày 19/3/2021: Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh con dao bấm mà H gửi qua Zalo cho H đ hâm dọa giết H cho H nH dạng, kết quả: H xác định con dao bấm trong ảnh chính là con dao mà H sử dụng đ m S tử vong.
* Về trách nhiệm dân s : Đại diện theo ủy quyền của bị hại là chị Nguyễn Thị Ngọc T (vợ của S) yêu cầu Nguyễn V n H bồi tH chi phí mai táng với tổng số tiền 106.960.000đ; tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật và tiền cấp dưỡng cho cháu Trương hải Đ, sinh ngày 8/11/2005 đến khi đủ 18 tuổi. Bị cáo H đồng ý bồi tH theo yêu cầu của đại diện bị hại, hiện nay gia đình của H đã bồi tH được 30.000.000đ tiền mai táng phí.
Quá trình điều tra Nguyễn V n H thừa nH toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên. Lời khai nH tội của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định tử thi, kết luận giám định thương tích, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 10/CT-VKSĐT-P2 ngày 28 tháng 04 n m 2021 của Viện ki m sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn V n H về tội “Giết người” theo quy định tại đi m n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình s .
- Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện ki m sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, ph n tích hành vi phạm tội, cấu thành tội, các tình tiết t ng nặng giảm nhẹ đối áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn V n H phạm tội “Giết người”.
Áp dụng đi m n khoản 1 Điều 123; đi m b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình s ; Xử phạt bị cáo Nguyễn V n H mức hình phạt tù từ 18 n m đến 20 n m tù.
Về trách nhiệm d n s : Bị cáo Nguyễn V n H đồng ý bồi tH các bồi tH khoản theo người đại diện hợp pháp cho bị hại yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận s t nguyện này của bị cáo. Riêng phần cấp dưỡng nuôi con bị cáo đồng ý cấp dưỡng theo quy định của pháp luật nên chấp nH.
Về xử lý vật chứng, đề nghị T a tuyên như phần nội dung quyết định của cáo trạng đã nêu.
- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại tại phiên t a yêu cầu bị cáo bồi tH như sau:
+ Bồi tH chi phí mai táng c n lại là 76.960.000 đồng.
+ Tiền bồi tH tổn thất tin thần: 149.000.000 đồng (100 tháng lương cơ sở).
+ Cấp dưỡng nuôi con của bị hại Trương Thúy S là Trương hải Đ sinh ngày 08/11/2005 đến khi đủ 18 tuổi với mức cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Trong phần tranh luận đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất theo đề xuất của Viện ki m sát về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo. Luật sư nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo đã thật thà khai báo và n n n hối cải, bồi tH khắc phục được một phần hậu quả và tại phiên t a đồng ý bồi tH theo yêu cầu đại diện bị hại, bị cáo đã đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Tại phiên t a bị cáo Nguyễn V n H thừa nH toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã nêu. Về trách nhiệm d n s bị cáo đồng ý bồi tH các khoản theo yêu cầu của đại diện hợp pháp bị hại, riêng phần cấp dưỡng bị cáo đồng ý cấp dưỡng cho con bị hại theo quy định của pháp luật. Lời nói sau cung bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nH định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã th c hiện đúng thẩm quyền, trình t , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình s . Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên t a, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn V n H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định hành vi được mô tả trong bản cáo trạng số 10/CT-VKSĐT-P2 ngày 28 tháng 04 n m 2021 của Viện ki m sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Nguyên nh n xuất phát từ việc H ghen tuông giữa H và S có quan hệ tình cảm, dù H không phải là vợ hợp pháp của H. H chuẩn bị sẵn hung khí (dao sắc bén) đi đến nhà H thì gặp S tại nhà của H, H liền tấn công ngay chém nhiều cái vào tay S, S bỏ chạy thoát ra ngoài nhưng H vẫn quyết t m đuổi theo một quảng đường khoảng 50 mét rồi cầm dao đ m nhiều cái vào cơ th của S dẫn đến tử vong.
Lời khai nH của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn V n H đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại đi m n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình s .
Tại Điều 123 b luật hình sự có quy định:
1. Người nào giết người thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a)………………………;
………………………..;
n) “Có tính chất côn đồ”.
[3] Bị cáo Nguyễn V n H là người đã trưởng thành, có th chất, tinh thần phát tri n bình tH, có khả n ng điều khi n hành vi, nH thức được pháp luật, có đủ n ng l c chịu trách nhiệm hình s theo quy định. Đáng lý ra, trước s việc như vậy, bị cáo phải bình tĩnh, kiềm chế bản th n đ tìm cách nói chuyện với Hu nh Thị Mỹ H và bị hại Trương Thúy S tìm hướng giải quyết chuyện gia đình một cách đúng đắn. C n nếu s việc có trầm trọng hơn mà các bên không th giải quyết được thì báo chính quyền địa phương đ làm rõ s việc hoặc tìm hi u các quy định pháp luật đ có hành vi phù hợp, như vậy sẽ không xảy ra s việc đáng tiếc. Bị cáo không làm được điều này mà lại chọn cách giải quyết m u thuẫn bằng bạo l c nên khi gặp S bị cáo không kiềm chế bản th n đã th c hiện hành vi dùng cây dao nhọn là hung khí nguy hi m chém và đ m bị hại nhiều nhát dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo là côn đồ, bất chấp pháp luật, chỉ vì m u thuẫn nhỏ mà cố tình tước đoạt sinh mạng bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình s với tình tiết định khung tại đi m n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình s .
Bị cáo biết tính mạng, sức khỏe con người luôn được pháp luật bảo vệ. Nếu người nào có hành vi x m phạm đến tính mạng, sức khỏe con người đều bị pháp luật xử lý nghiêm minh. Vậy mà bị cáo vẫn th c hiện hành vi phạm tội và đã tước đoạt mạng sống của người bị hại một cách trái pháp luật. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và th c hiện tội phạm đã hoàn thành.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hi m cho xã hội, đã tr c tiếp x m phạm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại một cách trái pháp luật, cố ý tước đoạt mạng sống của người bị hại, g y ra hậu quả rất lớn làm cho gia đình người bị hại mất đi người thân không sao tìm lại được. Hành vi phạm tội của bị cáo còn g y mất trật t trị an ở địa phương, x m phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà Nước. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là việc làm cần thiết. Đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đ có điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo, nhằm phục vụ tình hình chính trị ở địa phương, giữ gìn kỷ cương pháp luật Nhà Nước đồng thời cũng đ r n đe và ph ng ngừa chung.
[5] Về tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình s :
- Bị cáo chém g y thương tích cho bị hại, bị hại đã bỏ chạy nhưng bị cáo cố tình đuổi theo (khoảng 50m) đ tiếp tục đ m chém bị hại dẫn đến bị hại tử vọng, đ y là hành vi cố tình th c hiện tội phạm đến cùng được quy định đi m e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình s .
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên t a sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình t nguyện bồi tH khắc phục 01 phần hậu quả; thành khẩn khai báo, n n n hối cải; Người phạm tội đầu thú là các tình giảm nhẹ quy định tại đi m b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s .
[6] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện ki m sát là hoàn toàn có c n cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Xét lời đề nghị của vị luật sư tại phiên t a về các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm d n s :
- Trong quá trình điều tra chị Nguyễn Thị Ngọc Trinh là đại diện hợp pháp theo ủy quyền của gia đình người bị hại yêu cầu bị cáo bồi tH chi phí mai táng là 106.960.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật, gia đình của bị cáo đã bồi tH được 30.000.000 đồng tiền mai táng phí, c n lại phải bồi tH tiếp là 76.960.000 đồng. Tại phiên t a sơ thẩm, đại diện theo pháp luật của bị hại yêu cầu bị cáo bồi tH tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật (tương đương 100 tháng lương cơ sở, bằng số tiền 149.000.000 đồng), bị cáo Nguyễn V n H đồng ý bồi tH số tiền c n lại nêu trên theo yêu cầu của phía đại diện bị hại nên ghi nhận s t nguyện này của bị cáo.
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên t a sơ thẩm chị Nguyễn Thị Ngọc Trinh là vợ của bị hại yêu cầu bị cáo trợ cấp nuôi con chung của chị Trinh và bị hại Trương Thúy S là cháu Trương hải Định sinh ngày 08/11/2005 với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng nhưng bị cáo chỉ đồng ý bồi tH theo pháp luật. Xét thấy, yêu cầu của chị Trinh là chưa phù hợp nên chấp nH theo s t nguyện cấp dưỡng theo quy định của pháp luật của bị cáo.
[8] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) áo Jean dài tay màu xám; 01 (một) cái nón lưỡi trai (nón kết) màu trắng, có vết màu n u đỏ ở phần trước mũ lưỡi trai không c n giá trị và bị cáo không yêu cầu nH lại nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn V n H phải chịu án phí hình s sơ thẩm, án phí dân s sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo luật định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V n H phạm tội “Giết người”;
C n cứ đi m n khoản 1 Điều 123; đi m b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; đi m e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình s ;
Xử phạt bị cáo Nguyễn V n H 18 (mười tám) n m tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2021.
Về trách nhiệm d n s : Áp dụng Điều 357; Điều 468; Điều 586; Điều 591 Bộ luật D n s n m 2015; Điều 116 Bộ luật hôn nh n gia đình.
- Ghi nhận s t nguyện của bị cáo Nguyễn V n H đồng ý bồi tH theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại. Buộc bị cáo Nguyễn V n H bồi tH cho đại diện hợp pháp bị hại là ông Trương V n Quang, bà Lý Thị Nở, anh Trương Hải Đ ng, Trương hải Định và Nguyễn Thị Ngọc Trinh chi phí mai táng c n lại là 76.960.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng; Tổng cộng các khoản phải bồi tH là 225.960.000 đồng (Hai tr m hai mươi l m triệu chín tr m sáu chục ngàn đồng).
- Buộc bị cáo Nguyễn V n H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trương hải Định, sinh ngày 08/11/2005 mỗi tháng bằng ½ mức lương cơ sở, do chị Nguyễn Thị Ngọc Trinh đại diện nH. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/11/2021) cho đến khi cháu Định đủ 18 tuổi.
Về lãi suất chậm trả: từ ngày bản án, quyết định có hiệu l c pháp luật hoặc k từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật D n s n m 2015.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng đi m c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình s :
Tịch thu tiêu hủy vật không có giá trị sử dụng và không có ai yêu cầu nH lại gồm: 01 (một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) áo Jean dài tay màu xám; 01 (một) cái nón lưỡi trai (nón kết) màu trắng, có vết màu n u đỏ ở phần trước mũ lưỡi trai.
(Các vật chứng nêu trên hiện Cục thi hành án d n s tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên bản giao nH vật chứng ngày 05/5/2021).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình s và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Buộc bị cáo Nguyễn V n H phải chịu 200.000 đồng án phí hình s sơ thẩm và 11.298.000 đồng tiền án phí d n s sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa phúc thẩm T a án nh n d n Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n s thì người được thi hành án d n s , người phải thi hành án d n s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được th c hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n s , thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n s . Nơi nh n:
TM HỘI ĐỒNG X T X
TH M
- V SND tỉnh Đồng Tháp;
TH M PHÁN-CHỦ T A PHI N TÒA
- V SND Cấp cao tại TP.HCM;
- T ND Cấp cao tại TP.HCM;
- Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Cơ quan TH HS Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Ban nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
- Cục Thi hành án d n s tỉnh Đồng Tháp;
- UBND xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ (biết);
- Bị cáo;
Phạm Minh Tùng
- Đại diện bị hại;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
- Người bào chữa;
- Ph ng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
- Phòng KTNV-TH .T tỉnh Đồng Tháp;
- Lưu: HSV (Nh t Minh).