- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phương Thị Cẩm X - Khổng Chung T - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST Ngày: 07-4-2021 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Ngọc Sanh
Ông Trần Đại Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/ 2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phương Thị Cẩm X
sinh năm 1985
(Vắng mặt)
2. Bị đơn:
Anh Khổng Chung T
sinh năm 1980
(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 6, ấp 4, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 9 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Phương Thị Cẩm X trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phương Thị Cẩm X và anh Khổng Chung T quen biết, tìm hiểu và yêu nhau được khoảng ba tháng thì tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/4/2004.
Theo chị X, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng gần mười năm thì đến khoảng giữa năm 2013 mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên “tụ tập” bạn bè uống rượu rồi về nhà có những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị X, thậm chí anh T còn đánh chị X (nhưng không để lại thương tích). Ngoài ra, anh T còn thường xuyên ghen tuông “vô cớ” dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên lớn tiếng cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị “rạn nứt” mà không thể hàn gắn được. Vì mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được nên đầu năm 2020 chị X đã nộp đơn ly hôn với anh T tại Tòa án. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T đã hứa sẽ thay đổi và được cha mẹ hai bên hòa giải nên chị X đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau khi vợ chồng về đoàn tụ thì anh T vẫn không thay đổi và vợ chồng lại tiếp tục xảy ra nhiều mâu thuẫn. Từ khoảng tháng 02/2020 cho đến nay mặc dù vợ chồng vẫn còn sống chung nhà với nhau nhưng không ai quan tâm đến ai, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng. Nay chị X nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Khổng Chung T.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Khổng Thị Thảo Th, sinh ngày 04/01/2005 và cháu Khổng Nhật T1, sinh ngày 27/10/2014, hiện các con chung đang sống với chị X. Theo đơn khởi kiện ban đầu, chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Ngày 14/12/2020, chị X có đơn xin thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Phương Thị Cẩm X khai tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Phương Thị Cẩm X khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Khổng Chung T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự phiên tòa, tuy nhiên nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Phương Thị Cẩm X được ly hôn với anh Khổng Chung T.
+ Về con chung: Giao cháu Khổng Thị Thảo Th và cháu Khổng Nhật T1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị X không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Buộc chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nhưng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phương Thị Cẩm X và anh Khổng Chung T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/4/2004 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị X và anh T đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình; mặt khác, anh T còn có những hành động làm ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của chị X. Mặc dù sự việc này không được anh T thừa nhận nhưng lời khai của chị X phù hợp với kết quả xác minh ngày 17/12/2020 tại Công an xã L, huyện T: “... anh T hay say xỉn và thường xuyên cãi nhau với chị X, đôi khi anh T còn đánh chị X ...”. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ gia đình nhưng anh T đều vắng mặt thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị X. Xét mâu thuẫn giữa chị X và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị X là có căn cứ, phù hợp với quy đinh tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị X và anh T có hai con chung là cháu Khổng Thị Thảo Th, sinh ngày 04/01/2005 và cháu Khổng Nhật T1, sinh ngày 27/10/2014.
Xét yêu cầu của nguyên đơn khi ly hôn được trực tiếp nuôi con chung, nhận thấy: Hiện chị X là người trực tiếp nuôi các con chung và yêu cầu của chị X phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ nên cần tiếp tục giao các con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Chị X hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho các con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị X vẫn không yêu cầu nên tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị X xác định vợ chồng không có nợ chung, về tài sản chung chị X khai tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh T vắng mặt không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận được và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
Về án phí: Chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phương Thị Cẩm X.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phương Thị Cẩm X và anh Khổng Chung T được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1 Giao cháu Khổng Thị Thảo Th, sinh ngày 04/01/2005 và cháu Khổng Nhật T1, sinh ngày 27/10/2014 cho chị Phương Thị Cẩm X được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2 Tạm thời anh Khổng Chung T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phương Thị Cẩm X không yêu cầu.
2.3 Anh Khổng Chung T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phương Thị Cẩm X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0006293 ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị X đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CC THADS huyện Thống Nhất; - UBND xã L, huyện T; (GCNKH số 23, quyển số 01/2004) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Trang |