vanban.org

Bản án 18/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn và giải quyết vấn đề con chung của Trần Thị Mỹ H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ H được ly hôn với ông Ngô Văn D. Về con chung: Giao con chung Ngô Anh K, sinh ngày 11/05/2015 cho ông Ngô Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Bà Trần Thị Mỹ H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và giải quyết vấn đề con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn và giải quyết vấn đề con chung của Trần Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19/11/2021.
Về việc “Ly hôn và giải quyết
vấn đề con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Luân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hiển.

2. Bà Kơ Ria Trâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lành – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn và giải quyết vấn đề con chung”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/11/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1997; địa chỉ: số 19/5, đường 27, Ấp B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn: Ông Ngô Văn D, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn X 1, xã LX, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Trần Thị Mỹ H và ông Ngô Văn D kết hôn vào tháng 12/2015, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LX, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Theo bà H thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống mà nguyên nhân do ông D ham chơi không có trách nhiệm với gia đình, mâu thuẫn kéo dài cho đến tháng 5/2019 thì vợ chồng ly thân cho đến nay, bà H đã chuyển đến Bình Dương sinh sống, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông D.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/10/2021, bị đơn ông Ngô Văn D cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, bản thân ông cũng không ham chơi như lời bà H đã trình bày mà do bà H tự ý bỏ đi, vợ chồng ly thân trong thời gian dài, ông nhận thấy cũng không còn khả năng hàn gắn nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Hoa.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Anh K, sinh ngày 11/05/2015. Ông Duẩn và bà H đều có yêu cầu được được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu K đến khi thành niên, không bên nào có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên xác nhận không có tài sản chung và nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án ông D vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên quan điểm về các vấn đề quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn đối với bị đơn; Giao con chung Ngô Anh K cho ông Ngô Văn D trực tiếp nuôi dưỡng; Về việc cấp dưỡng: các bên không có yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Ngô Văn D có nơi cư trú tại: thôn X 1, xã LX, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều vắng và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung cần giải quyết của vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ H và ông Ngỗ Văn Duẩn tự nguyện kết hôn, đã đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa các bên là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bà H và ông D đều xác nhận quá trình chung chỉ hòa thuận hạnh phúc trong một thời gian ngắn rồi phát sinh mâu thuẫn kéo dài. Theo lời khai của các đương sự xác định tình trạng hôn nhân đã xấu đi đến mức không thể hòa giải được, mỗi người nhìn nhận mâu thuẫn gia đình theo một cách khác nhau, vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài không còn quan tâm đến nhau, cũng không thể hàn gắn để trở về chung sống mà đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông D đã mâu thuẫn trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn đối với bị đơn.

Về con chung: Bà Hoa và ông D có 01 con chung là: Ngô Anh K, sinh ngày 11/05/2015, hiện nay ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Sau khi xem xét mọi mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay ông D có có công việc để tạo ra thu nhập và có nơi cư trú ổn định, ông D đã trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Anh K từ khi vợ chồng ly thân và còn có sự trợ giúp của gia đình. Để đảm bảo sự ổn định, và đảm bảo các điều kiện để con chung phát triển bình thường, cần giao con chung cho ông Ngô Văn D tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi thành niên, các bên không có yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn và giải quyết vấn đề con chung của Trần Thị Mỹ H.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ H được ly hôn với ông Ngô Văn D.

2. Về con chung: Giao con chung Ngô Anh K, sinh ngày 11/05/2015 cho ông Ngô Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Bà Trần Thị Mỹ H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002867 ngày 10/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

5. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẦM

Cỡ chữ