- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chap gop hui"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/DS-ST Ngày: 22/4/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Ngọc Song
Bà Trần Thị Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu là thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thòn - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 253/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2021/QĐXX-ST ngày 09 tháng 3 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST-DS ngày 02/4/2021, giữa:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Phú Th, xã Thanh M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
Bị đơn:
- Chị Nguyễn Thị Bích Ng, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)
- Anh Trần Văn H, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Phú Th, xã Thanh M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ và các lời khai của bà trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Vào ngày 13/6/2017 âm lịch bà Đ có khui một dây hụi, loại hụi 3.000.000đ/vụ, một năm khui ba lần là tương đương một năm có ba vụ lúa, hụi gồm 16 phần, trong có anh H và chị Ng là hai vợ chồng có tham gia chơi một phần, quy định ai kêu thâm hụi cao nhất thì được hốt, tiền hoa hồng đầu thảo được hưởng là 1.500.000đ. Anh H, chị Ng đóng hụi sống được 02 lần đến hụi khui lần thứ ba thì anh H, chị Ng kêu 1.150.000đ là thâm cao nhất nên được hốt hụi, trừ tiền đầu thảo được hưởng 1.500.000đ số tiền anh H, chị Ng hốt được là 30.400.000đ. Sau khi hốt hui xong thì anh H, chị Ng đóng thêm 04 lần hụi chết thì ngưng đóng cho đến nay. Như vậy còn lại 09 lần hụi chết anh H, chị Ng không có đóng hụi chết cho bà Đ. Trong 09 lần hụi chết này, bà Đ đã đóng choàng thay cho anh H, chị Ng 04 lần bằng 12.000.000đ, còn 05 lần còn lại là chưa đến kỳ khui hụi.
Nay do phía anh H và chị Ng vi phạm nghĩa vụ đóng hụi chết, nên bà Huỳnh Thị Đ có yêu cầu Tòa án buộc anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng phải trả cho Đ số tiền hụi chết mà bà Đ đã choàng là 12.000.000đ, tiền hụi chết chưa đến kỳ khui là 9.250.000đ (tiền gốc 1.850.000đ x 5 lần hụi chết). Tổng cộng là 21.250.000đ, bà Đ không yêu cầu tính lãi. Đối đối yêu cầu tính lại là 3.439.000đ thì bà Đ có yêu cầu rút lại, không yêu cầu anh H, chị Ng phải trả.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Ng vắng mặt tại phiên tòa có biên bản lấy lời khai ngày 04/02/2021 chị Ng thể hiện ý kiến như sau: Việc anh H có tham gia chơi hụi do bà Đ làm đầu thảo ngay từ đầu là chị không biết và cũng không có nghe anh H nói lại. Sau đó, cách một năm sau khi anh H đi làm vắng nhà, thì bà Đ có đến nhà tìm anh H để đòi tiền hụi chết, thì chị mới biết được anh H có tham gia chơi hụi do bà Đ làm đầu thảo loại hụi 3.000.000đ/vụ (hai dây mỗi dây 01 phần, có một dây hụi sống và một dây hụi đã chết). Hiện nay anh H đi đâu, ở đâu thì chị không biết và cũng không biết khi nào anh H trở về nhà. Nay bà Đ có yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền hụi chết là 21.250.00đ thì chị Ng thừa nhận có nợ và đồng ý cùng anh H trả cho bà Đ số tiền 21.250.000đ, nhưng do gia đình chị Ng cũng đang gặp khó khăn không có tiền trả một lần, khi nào có sẽ trả đủ, còn về tiền lãi thì chị Ng không đồng ý trả, vì tiền hụi không có tính lãi.
* Bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh H, nhưng H vẫn không có mặt theo thông báo của Tòa án và cũng không có văn bản nêu ý kiến của anh như thế nào đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử.
- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ. Buộc anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng cùng trả cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền hụi chết còn thiếu là 21.250.000đ. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng cùng trú tại ấp Phú Th, xã Thanh M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phải trả tiền hụi chết không đóng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “tranh chấp về hợp đồng góp hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho anh Trần Văn H, chị Nguyễn Thị Bích Ng và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh H và chị Ng không đến Tòa án. Nên Tòa án đã tiến hành công khai, tiếp cận chứng cứ và xét xử vắng mặt anh Trần Văn H, chị Nguyễn Thị Bích Ng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện đúng vào ngày 13/6/2017 âm lịch bà Huỳnh Thị Đ có khui một dây hụi, loại hụi 3.000.000đ/vụ, một năm khui ba lần là tương đương một năm có ba vụ lúa, hụi gồm 16 phần, trong có anh H và chị Ng là hai vợ chồng có tham gia chơi một phần, còn lại 15 phần là của các hụi viên khác (có danh sách hụi kèm theo), tiền huê hồng đầu thảo bà Đ được hưởng là 1.500.000đ/kỳ hốt hụi, các bên tự nguyện tham gia chơi hụi. Đây là hợp đồng góp hụi là có thật và hợp pháp. Qua lời khai của các hụi viên mà Tòa án đã tiến hành xác minh thể hiện tại các Bút lục từ 36 đến 40 thể hiện anh H và chị Ng có tham gia chơi hụi là đúng sự thật, theo thông báo của bà Đ đến các hụi viên qua các kỳ khui hụi thì đến kỳ thứ 3 anh H đã hốt hụi. Theo xác nhận của chính quyền địa phương vào ngày 04/02/2021 (BL 28) thì anh H đã bỏ địa phương đi đến nay hơn 01 năm. Hơn nữa tại bút lục số 29-30 chị Ng cũng thừa nhận có nợ hụi chết bà Đ chưa đóng và đồng ý trả tiền hụi chết theo yêu cầu của bà Đ. Như vậy việc bà Đ trình bày anh H đã hốt hụi tại kỳ thừ 3 sau đó anh H đóng hụi chết được 04 kỳ nữa thì ngưng đóng hụi chết cho đến này là phù hợp về mặt thời gian anh H đã đi khỏi địa phương và chị Ng cũng thừa nhận là không có đóng hụi cho bà Đ. Nên bà Đ có quyền khởi kiện anh H, chị Ng về dây hụi trên. Bà Đ đã đóng choàng hụi choi anh H 04 lần bằng 12.000.000đ, còn 05 lần hụi chết bà Đ không có choàng hụi mà yêu cầu anh H và chị Ng trả bằng tiền gốc đã nhận là 1.850.000đ x 5 bằng 9.250.000đ. Tại Điều 10, 17 Nghị định Số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi, họ, biêu, phường có quy định thành viên đã hốt hụi có thể rút khỏi dây hụi nhưng phải góp các phần hụi chưa góp và giao cho chủ hụi và chủ hụi có quyền yêu cầu thành viên đã hốt hụi phải góp lại các phần hụi chưa góp khi chấp dứt chơi hụi khi hụi chưa mãn. Như vậy việc bà Huỳnh Thị Đ khởi kiện yêu cầu anh H, chị Ng trả 21.250.000đ tiền hụi chết chưa đóng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Đối với số tiền lãi là 3.439.000đ mà tại đơn khởi kiện bà Đ có yêu cầu anh H và chị Ng phải có nghĩa vụ trả. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Đ rút lại đối với yêu cầu này, không yêu cầu anh H và chị Ng trả. Việc rút yêu cầu khởi kiện này của bà Đ là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Đ yêu cầu anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng trả 3.439.000đ tiền lãi.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử và quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bà Huỳnh Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 275, 276, 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi, họ, biêu, phường
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ
2/ Buộc anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền 21.250.000đ (hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền hụi chết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3/ Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ đối với yêu cầu anh Trần Văn H và bà Nguyễn Thị Bích Ng trả tiền lãi 3.439.000đ.
4/ Về án phí: Anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Bích Ng phải liên đới nộp 1.062.500đ (Một triệu không trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Huỳnh Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 617.000đ (sáu trăm mười bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003693 ngày 22/12/2020 của Chị cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - CCTHADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Hiệp |