vanban.org

Bản án 18/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Hàng Hải Việt Nam yêu cầu ông Huỳnh Văn C..trả nợ vay"
  • Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 18/2021/DS-ST
Ngày: 30-6-2021
V/v tranh chấp dân sự về hợp
đồng vay tài sản bằng tiền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Chau Cương;

Bà Huỳnh Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký tòa án nhân dân

huyện Tịnh Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên

tòa: Ông Chau Rết.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh

Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2020/TLST-DS ngày 15

tháng 7 năm 2020 “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2021

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam.Trụ sở chính:

54A Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q – Quyền Giám đốc Khối

quản lý tín dụng theo giấy ủy quyền số 1334/2020/UQ-TGDD12 ngày

01/4/2020 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam;

Ông Phạm Thanh P.. – CVC phòng XLN.KHCN, địa chỉ: Tầng 23,

Tòa nhà TNR, số 180-192 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình,

quận 1, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy ủy quyền số 2618/2020/GUQ-

TGĐ12 ngày 26/5/2020 của Tổng Giám đốc, có mặt;

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn C.., sinh năm 1973, nơi cư trú: tổ 2, ấp B,

xã A, huyện T, tỉnh a, vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ,

sinh năm 1949, nơi cư trú: tổ 2, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh a, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 6 năm 2020 và quá trình giải quyết

vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Hàng Hải Việt Nam trình bày:

Ngày 10/6/2016 tại Phòng giao dịch Trung tâm Tài chính Cộng đồng

Xuân Tô, Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (thuộc khóm Xuân Hòa, thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) ký kết hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 246-XT/2016/HĐCV-MSB với ông Huỳnh Văn C.., cho vay vốn là 80.000.000 đồng, mục đích sử dụng: trồng xoài, lãi suất 12,12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng.

Để đảm bảo hợp đồng vay ông C.. và bà Đ.. ký hợp đồng thế chấp

quyền sử dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh số 246-XT/2016/HĐTC/BĐ ngày 10/6/2016, tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0542nK ngày 29/9/2005 đứng tên Nguyễn Thị Ngọc Đ (đính chính tại trang 4), diện tích đất 5.649,3 m2, số tờ bản đồ 38, số thửa 65 tọa lạc tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh A.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C.. không thực hiện theo thỏa

thuận. Ngân hàng vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn: yêu cầu trả ngay số tiền vay còn nợ (tính từ ngày 11/6/2016 đến ngày 30/6/2021), trong đó: tiền vốn là 79.955.733 đồng, tiền lãi trong hạn: 44.725.536 đồng, tiền lãi quá hạn: 23.573,015 đồng, tổng cộng: 148.254.284 đồng; đồng thời tiếp tục duy trì hợp đồng thế quyền sử dụng đất số 246-XT/2016/HĐTC/BĐ ngày 10/6/2016 để đảm bảo thi hành án.

Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chổ 600.000 đồng,

yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả lại.

* Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông

Huỳnh Văn C.. đều vắng mặt: không có ý kiến trình bày.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Đ

trình bày: Bà có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh số 246-XT/2016/HĐTC/BĐ ngày 10/6/2016, là tài sản do bà đứng tến gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0542nK ngày 29/9/2005, diện tích đất 5.649,3 m2, số tờ bản đồ 38, số thửa 65 tọa lạc tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh A. Mục đích nhằm bảo lãnh cho ông Huỳnh Văn C.. (con) vay tiền tại Trung tâm tài chính cộng đồng Xuân Tô - Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam theo hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 246-XT/2016/HĐCV-MSB để ông Huỳnh Văn C.. vay vốn là 80.000.000 đồng, mục đích sử dụng: trồng xoài, lãi suất 12,12%/năm, lãi

suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng. Nhưng

quá trình vay vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ trả nợ, hiện bà thống nhất với

số tiền còn nợ tổng cộng vốn, lãi 148.254.284 đồng. Bà đồng ý duy trì hợp

đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét

xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án

theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều

70, 71, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ về việc có mặt theo triệu tập của Tòa án quy định tại

Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Về hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 246-

XT/2016/HĐCV-MSB ngày 10/6/2016 giữa Ngân hàng với ông C.. trên cơ

sở tự nguyện, tự thỏa thuận không trái pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa

vụ các bên.

+ Về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ

bảo lãnh số 246-XT/2016/HĐTC/BĐ ngày 10/6/2016 được ký kết để đảm

bảo cho hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 246-XT/2016/HĐCV-

MSB ngày 10/6/2016, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký thế

chấp là phù hợp pháp luật. Vì vậy, cần tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp này.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng các Điều 317, 318, 319, 323, 463,

466, 468 BLDS và Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng thời xử lý tài sản thế chấp để đảm

bảo cho việc thi hành án.

- * Về tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được: Biên bản xem xét, thẩm

định tại chỗ ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn trình bày vẫn giữ yêu cầu khởi kiện

đối với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Bị đơn ông Huỳnh Văn C.. có nơi cư trú tại tổ 2, ấp

Bà Xoài, xã An Cư, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Văn

C.. được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt

Nam, Phòng giao dịch Trung tâm Tài chính Cộng đồng Xuân Tô ký Hợp đồng cho vay với ông Huỳnh Văn C.. vay tiền với mục đích trồng xoài nhằm nhu cầu sinh hoạt gia đình. Theo quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 đây là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản bằng tiền.

Về nội dung:

Về hợp đồng vay: Xét hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số

264-XT/2016/HĐCV-MSB ngày 10/6/2016 được xác lập trên cơ sở tự nguyện và tự thỏa thuận của các bên. Về nội dung và hình thức hợp đồng đều tuân thủ đúng quy định pháp luật và phù hợp theo quy định Điều 13, 18 và Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, và lãi suất áp dụng phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, nên có cơ sở công nhận hợp đồng này là hợp pháp.

Về biện pháp giao dịch bảo đảm: Xét hợp đồng thế chấp quyền sử

dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh số 264-XT/2016/HĐTC/BĐ ngày 10/6/2016 giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ được xác lập trên cơ sở đã tự nguyện, tự thỏa thuận, tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0542nK ngày 29/9/2005 đứng tên Nguyễn Thị Ngọc Đ, diện tích 5.649,3 m2, đất ở nông thôn + trồng cây lâu năm khác, số thửa 65, tờ bản đồ 38, tọa lạc tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh A. Xét thấy, hợp đồng thế chấp này được xác lập đảm bảo nghĩa vụ cho hợp đồng vay số 264-XT/2016/HĐCV-MSB ngày 10/6/2016, đã được đăng ký thế chấp có sự xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Tịnh Biên ngày 10/6/2016 tại trang bổ sung, nên có hiệu lực từ thời điểm giao kết, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 295, 298, 299, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, có cơ sở tiếp tục xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án. Hiện tài sản này do bà Đ.. và ông C.. đang quản lý theo biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Về nghĩa vụ trả nợ: Theo bảng kê tính lãi do đại diện Ngân hàng

xuất trình tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn C.. còn nợ tổng cộng số tiền vay (tính từ ngày 11/6/2016 đến ngày 30/6/2021), trong đó: tiền vốn là 79.955.733 đồng, tiền lãi trong hạn: 44.725.536 đồng, tiền lãi quá hạn: 23.573,015 đồng, tổng cộng: 148.254.284 đồng.

Theo ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ. Từ

những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn.

Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định, tại chổ là 600.000đ

(sáu trăm ngàn đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị

đơn phải chịu các khoản chi phí tố tụng, nguyên đơn đã tạm ứng nộp nên bị

đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị

đơn Huỳnh Văn C.. phải chịu án phí theo giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điều 147, 157, 158, 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 317, 319, 320, 463, 466 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân

sự năm 2015;

- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng

thương mại cổ phần (TMCP) Hàng Hải Việt Nam đối với bị đơn là ông Huỳnh

Văn C...

Buộc ông Huỳnh Văn C.. có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại

cổ phần (TMCP) Hàng Hải Việt Nam (do ông Phạm Thanh P.. đại diện) số

tiền vay còn nợ (tính từ ngày 11/6/2016 đến ngày 30/6/2021), trong đó: tiền

vốn là 79.955.733 đồng, tiền lãi trong hạn: 44.725.536 đồng, tiền lãi quá

hạn: 23.573,015 đồng, tổng cộng: 148.254.284 đồng (một trăm bốn mươi

tám triệu, hai trăm năm mươi bốn ngàn, hai tám bốn đồng).

2. Xử lý tài sản thế chấp diện tích đất 5.649,3 m2, đất ở nông thôn +

trồng cây lâu năm khác, số thửa 65, tờ bản đồ 38, tọa lạc tại ấp P, xã A,

huyện T, tỉnh A thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0542nK

ngày 29/9/2005 đứng tên Nguyễn Thị Ngọc Đ theo hợp đồng thế chấp quyền

sử dụng đất để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh số 264-XT/2016/HĐTC/BĐ

ngày 10/6/2016 để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn C.. phải chịu 7.413.000đ

(bảy triệu, bốn trăm, mười ba ngàn đồng) tiền án phí.

Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Hoàng Hải Việt Nam (do ông

Phạm Thanh P.. đại diện) được hoàn lại tiền tạm ứng án phí 3.200.000đ (ba triệu, hai trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số TU/2017/0009471 ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tịnh Biên.

4. Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Văn C.. phải hoàn trả cho Ngân hàng

Thương mại cổ phần (TMCP) Hàng Hải Việt Nam số tiền 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng).

5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử

sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ