- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/DS-ST Ngày 28 tháng 5 năm 2021 “ V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết, ông Vũ Mạnh Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 343/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân Hàng NTVN. Địa chỉ: 02 L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng K – chức vụ: Giám đốc Agribank chi nhánh huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người được ủy quyền lại: Ông Lâm Ngọc N. Chức vụ: Giám đốc Ngân Hàng NTVN – Chi nhánh huyện E, tỉnh Đăk Lăk - Phòng giao dịch Nguyễn Tất T. Địa chỉ: 83 Nguyễn Tất T, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (theo văn bản uỷ quyền ngày 23/01/2021) (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Đ. Địa chỉ: Thôn 12, xã EaĐar, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn Đ1, bà Lê Thị H, bà Trần Thị L. Địa chỉ: Thôn M, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).
+ Bà Vũ Thị T và bà Trần Thị Th. Địa chỉ: Thôn C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 10/9/2020, các lời khai và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn ông Lâm Ngọc N trình bày:
Ngày 19/9/2017, ông Trần Văn Đ có ký giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân số 5202-LDS-201706211 của Ngân Hàng NTVN (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 136.000.000 đồng với thời hạn vay 12 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 18/9/2018, với lãi suất 0,875%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng số 5202LAV201604340 ngày 20/9/2016.
Khi vay ông Đ có thế chấp cho Ngân hàng 01 quyền sử dụng đất đối với diện tích 3650m2 tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại thôn 12, xã EaĐar, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 908145 ngày 05/7/2006 mang tên hộ ông Trần Văn Đ, vợ Vũ Thị Thu có nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 14/10/2008 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TC 262/14 ngày 17/9/2014.
Nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng ông Đ không trả cho ngân hàng được khoản tiền gốc và lãi nào. Như vậy đã vi phạm thoả thuận về việc trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng. Vì vậy, Ngân Hàng NTVN khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ phải trả cho ngân hàng số nợ là 207.967.288 đồng, trong đó nợ gốc là 136.000.000 đồng, lãi trong hạn từ ngày 19/9/2017 đến ngày 18/9/2018 là 14.280.000 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/9/2018 đến ngày xét xử 28/5/2021 là 57.687.288 đồng. Trường hợp ông Đ không trả được nợ hoặc không trả hết nợ thì đề nghị Toà án giải quyết cho Ngân Hàng NTVN được được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TC 262/14 ngày 17/9/2014 để thu hồi nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn ông Trần Văn Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T và bà Trần Thị Th, Trần Văn Đ1, bà Lê Thị H, bà Trần Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Toà án để làm việc nên không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét xử.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.
2
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân Hàng NTVN là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Trần Văn Đ phải trả cho ngân hàng số nợ là 207.967.288 đồng, trong đó nợ gốc là 136.000.000 đồng, lãi trong hạn từ ngày 19/9/2017 đến ngày 18/9/2018 là 14.280.000 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/9/2018 đến ngày xét xử 28/5/2021 là 57.687.288 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân Hàng NTVN khởi kiện yêu cầu ông Đ phải trả cho ngân hàng số nợ là là 207.967.288 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện EaKar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ, bà T, bà Th vắng mặt tại nơi cư trú, ông Đ1, bà H, bà L không nhận các văn bản tố tụng của Toà án. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với các đương sự theo đúng quy định của pháp luật nhưng các đương sự không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa hôm nay các đương sự vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà T, bà Th, ông Đ1, bà H, bà L.
Về nội dung: Ngày 19/9/2017, ông Trần Văn Đ có ký giấy nhận nợ Ngân Hàng NTVN số tiền 136.000.000 đồng với thời hạn vay 12 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 18/9/2018, với lãi suất 0,875%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng số 5202LAV201604340 ngày 20/9/2016.
Nay đã quá thời hạn trả nợ, nhưng ông Đ không trả cho ngân hàng được khoản tiền gốc và lãi nào, như vậy đã không thực hiện đúng với nội dung hợp đồng đã cam kết. Do đó, đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Vìa vậy, ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Toà án nhân dân huyện EaKar giải quyết buộc ông Đ phải trả cho ngân hàng số nợ là 207.967.288 đồng, trong đó nợ gốc là 136.000.000 đồng, lãi trong hạn từ ngày 19/9/2017 đến ngày 18/9/2018 là
3
14.280.000 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/9/2018 đến ngày xét xử 28/5/2021 là 57.687.288 đồng.
Từ những chứng cứ mà các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ nên HĐXX cần buộc ông Đ phải trả cho Ngân Hàng NTVN số tiền nợ 207.967.288 đồng, trong đó nợ gốc là 136.000.000 đồng, lãi trong hạn từ ngày 19/9/2017 đến ngày 18/9/2018 là 14.280.000 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/9/2018 đến ngày xét xử 28/5/2021 là 57.687.288 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với tài sản là 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 3650m2 tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại thôn 12, xã EaĐar, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 908145 ngày 05/7/2006 mang tên hộ ông Trần Văn Đ, vợ Vũ Thị T có nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 14/10/2008.
Đây là những tài sản đã được thế chấp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của ông Đ. Do vậy, trong trường hợp ông Đ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TC 262/14 ngày 17/9/2014 để thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng: Đối với số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, do nguyên đơn đã tạm ứng. Nay, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Đ phải trả cho Ngân Hàng NTVN 2.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là đúng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn (theo mức tính 207.967.288 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158; Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463, khoản 1, điểm a, b khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự. Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
4
- Buộc ông Trần Văn Đ phải trả cho Ngân Hàng NTVN số tiền nợ là 207.967.288 đồng, trong đó nợ gốc là 136.000.000 đồng, lãi trong hạn là 14.280.000 đồng và nợ lãi quá hạn là 57.687.288 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo cáo cáo đề xuất giải ngân kiêm nhận nợ số 5202-LDS-201706211 ngày 19/9/2017 của ngân hàng cho đến khi thi hành án xong.
- Ngân Hàng NTVN phải trả lại cho ông Trần Văn Đ và bà Vũ Thị T 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 908145 đã được UBND huyện EaKar cấp ngày 05/7/2006 mang tên hộ ông Trần Văn Đ, vợ Vũ Thị Thu có nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 14/10/2008 khi ông Đ trả nợ xong.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Đ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân Hàng NTVN, thì Ngân Hàng NTVN có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 3650m2 tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại thôn 12, xã EaĐar, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 908145 ngày 05/7/2006 mang tên hộ ông Trần Văn Đ, vợ Vũ Thị T có nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 14/10/2008 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC 262/14 ngày 17/9/2014 theo quy định của luật thi hành án dân sự để thu hồi nợ.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc ông Trần Văn Đ phải trả cho Ngân Hàng NTVN 2.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
4. Về án phí: Ông Trần Văn Đ phải chịu là 10.398.364 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trả lại cho Ngân Hàng NTVN 4.817.730 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0011515 ngày 28/10/2020 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện EaKar.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,7a và Điều 9
5
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận : - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND huyện EaKar; - THADS huyện Eakar; - Đương sự; - Lưu HS. 6 | Nguyễn Cƣờng Anh |