vanban.org

Bản án 18/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai Tuyên án 30/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn là ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam-Chi nhánh G (địa chỉ: 01 Trần Hưng Đạo, thành phố Pleiku, tỉnh G ) số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/6/2021 tổng cộng là 1.977.2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2021/DS-ST
Ngày: 30-6-2021
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Hoàng Liêu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Nhung.

2. Bà Mai Thị Thanh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh T hị Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh G .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện C , tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2020/TLST- DS ngày 27 tháng 4 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST - DS ngày 18 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam; Địa chỉ: 108 Trần Hưng Đạo, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Đức T- Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Nguyễn Quốc N , Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch C Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam - Chi nhánh G ; Địa chỉ: Thôn Hoà Phú, thị trấn Nhơn Hoà, huyện C tỉnh G . Có mặt

2. Bị đơn: Ông Trần Đình H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Hòa Tín, TT N , huyện C , tỉnh G . Có mặt bà Gái, vắng mặt ông Hoè.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Hoài T, sinh năm 1992; Chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1993; Chị Trần Thị Kim C, sinh năm 1999; Cùng địa chỉ: Thôn Hòa Tín, TT N , huyện C , tỉnh G . Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Theo hợp đồng cho vay số 649/2018-HĐCV/NHCT500-TRAN DINH HOE ngày 27/6/2018 Ngân hàng TMCP C TViệt Nam-Chi nhánh G cho ông Trần Đình Hvay số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng (ngày 27/6/2018 đến 27/6/2019), ngày giải ngân là ngày 27/6/2018, mục đích sử dụng vốn vay là trồng mời tiêu và chăm sóc cải tạo vườn tiêu, nhãn kinh doanh; lãi suất 10,8%/năm, lãi chậm trả tối đa 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Theo Hợp đồng thể chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 828/HĐTC ngày 26/6/2017. Để bảo đảm cho khoản vay trên ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G và các con của của ông, bà là chị Trần Thị Hoài T, chị Trần Thị Minh T, chị Trần Thị Kim C đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP C TViệt Nam-Chi nhánh G những tài sản cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 11b, 89, 90 tờ bản đồ số 33,44; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674939 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh G cấp ngày 09/12/1999.

Ngân hàng đã giải ngân tiền vay cho ông H theo đúng thỏa thuận. Tính đến thời điểm này, ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G còn nợ ngân hàng 1.977.223.973 đồng; trong đó nợ gốc là 1.500.000.000 đồng; nợ lãi là 477.223.973 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần mời ông đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không đạt kết quả. Từ ngày 28/6/2019 cho đến nay, ông Trần Đình Hkhông thanh toán lãi và gốc theo như thỏa thuận trong hợp đồng cho vay như đã nêu trên.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C giải quyết buộc ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP C TViệt Nam thông qua Ngân hàng TMCP C TViệt Nam-Chi nhánh G tiền gốc, lãi tính đến ngày 30/6/2021 và chi phí khác cụ thể như sau:

Nợ gốc và lãi phải trả là 1.977.223.973 đồng; trong đó nợ gốc là 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn là 321.875.342 đồng, lãi quá hạn là 155.348.630 đồng. Chi phí xem xét thẩm định là 3.000.000 đồng. (Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi chậm thi hành án đối với khoản tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ)

Trong trường hợp ông H và bà G không thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi và các chi phí khác như đã nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý, phát mãi các tài sản đã thế chấp theo các hợp đồng thế chấp như đã nêu trên để thu hồi nợ.

Đối với bị đơn ông H và bà G : Tại bản tự khai ngày 15/5/2020 và tại phiên toà bà Nguyễn Thị G trình bày: Năm 2018 gia đình bà có vay của Ngân hàng TMCP C TViệt Nam, chi nhánh G số tiền 1.500.000.000 đồng để đầu tư trồng mới hồ tiêu, chăm sóc cải tạo vườn tiêu, nhãn kinh doanh với lãi suất 10,8%/năm. Năm đầu tiên được ưu đãi là 8,5%/năm. Khi vay do chồng bà đứng tên là người vay vốn nhưng thực ra vốn này được sử dụng chung cho cả gia đình. Khi vay gia đình bà đã trả nợ lãi cho Ngân hàng được 11 tháng, nhưng do tiêu chết, kinh tế gia đình gặp khó khăn nên không trả được gốc và lãi như đã cam kết trong hợp đồng với Ngân hàng. Nay thay mặt gia đình bà đề nghị Ngân hàng cho giãn nợ, kéo dài thơi gian trả nợ để gia đình bà mới có điều kiện để trả được nợ cho Ngân hàng.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị Hoài T, chị Trần Thị Minh T, chị Trần Thị Kim C: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo và tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các chị đều vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng các chị tiếp tục vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét.

Về xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 31/8/2020, Tòa án nhân dân huyện C xác định như sau:

Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ thì Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 11b, tờ bản đồ số 33; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G (nay là thị trấn Nhơn Hoà, huyện C , tỉnh G ); Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 89, 90 tờ bản đồ số 44; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G (nay là xã IaPhang, huyện C , tỉnh G ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674939 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh G cấp ngày 13/12/1999, chưa có phát sinh việc tranh chấp với bên thứ ba.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Cơ bản là đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy có một số vi phạm nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cần rút kinh nghiệm.

Về phần nội dung: Căn cứ các Điều 280, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 156, 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự: Buộc ông H và bà G có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam-Chi nhánh G số tiền nợ gốc là 1.500.000.0000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết. Trường hợp ông H và bà G không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Buộc ông H và bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

Ngân hàng TMCP C TViệt Nam có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh G giải quyết Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với bị đơn ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G có địa chỉ tại thôn Hoà Tín, thị trấn Nhơn Hoà, huyện C , tỉnh G ; theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh G .

Tại phiên tòa bị đơn là ông H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt đến lần thứ hai không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Theo hợp đồng cho vay số 649/2018-HĐCV/NHCT500-TRAN DINH HOE ngày 27/6/2018 Ngân hàng TMCP C TViệt Nam-Chi nhánh G cho ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G vay số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng (ngày 27/6/2018 đến 27/6/2019) với lãi suất vau là 10,8%/năm, lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả, ngày giải ngân là ngày 27/6/2018, mục đích sử dụng vốn vay là trồng mời tiêu và chăm sóc cải tạo vườn tiêu, nhãn kinh doanh.

Ngân hàng đã giải ngân tiền vay cho ông H theo đúng thỏa thuận. Từ ngày 28/6/2019 cho đến nay, ông H và bà G không thanh toán lãi và gốc theo như thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng như đã nêu trên. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ lãi và nợ gốc nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản nợ trên sang nợ quá hạn từ ngày 28/6/2019. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và thông báo chuyển nợ quá hạn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông H và bà G không thanh toán nợ. Như vậy, ông H và bà G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Nợ gốc và lãi phải trả tính đến ngày 30/6/2021 là 1.977.223.973 đồng; trong đó nợ gốc là 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn là 321.875.342 đồng, lãi quá hạn là 155.348.630.

Lãi suất được tính theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.

Việc ông H và bà G không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng đã ký kết là lỗi hoàn toàn thuộc về bà G và ông Hoè. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là ông H và bà G phải trả cho nguyên đơn là Ngân hàng TMCP C TViệt Nam thông qua Ngân hàng TMCP C TViệt Nam-Chi nhánh G tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/6/2021 tổng cộng là 1.977.223.973 đồng.

. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho nguyên đơn:

Theo Hợp đồng thể chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 828/HĐTC ngày 26/6/2017. Để bảo đảm cho khoản vay trên ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G và các con của của ông, bà là chị Trần Thị Hoài T, chị Trần Thị Minh T, chị Trần Thị Kim C đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP C TViệt Nam-Chi nhánh G những tài sản cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 11b, tờ bản đồ số 33; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G (nay là thị trấn Nhơn Hoà, huyện C , tỉnh G ); Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 89, 90 tờ bản đồ số 44; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G (nay là xã IaPhang, huyện C , tỉnh G ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674939 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh G cấp ngày 13/12/1999.

Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ thì Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 11b, tờ bản đồ số 33; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G (nay là thị trấn Nhơn Hoà, huyện C , tỉnh G ); Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 89, 90 tờ bản đồ số 44; địa chỉ thửa đất: xã N , huyện Chư Sê, tỉnh G (nay là xã IaPhang, huyện C , tỉnh G ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674939 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh G cấp ngày 13/12/1999, chưa có phát sinh việc tranh chấp với bên thứ ba.

Xét thấy, hình thức và nội dung của Hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định tại các Điều 292, 293, 295, 298, 317, 318 và Điều 319 Bộ luật Dân sự có hiệu lực pháp luật.

Bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản nợ gốc, lãi và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác. Theo quy định tại khoản 6 Điều 320 và khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự thì trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp để xử lý. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay tại hợp đồng tín dụng trên để thu hồi nợ khi ông H và bà G không trả hết nợ cho Ngân hàng là có căn cứ và đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, bị đơn là ông H và bà G phải chịu chi phí này. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí này nên cần buộc ông H và bà G có nghĩa vụ thanh toán lại 3.000.000 đồng cho nguyên đơn là phù hợp với Điều 155, 156, 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng các Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Buộc bị đơn là ông Trần Đình Hvà bà Nguyễn Thị G có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam-Chi nhánh G (địa chỉ: 01 Trần Hưng Đạo, thành phố Pleiku, tỉnh G ) số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/6/2021 tổng cộng là 1.977.223.973 đồng; trong đó nợ gốc là 1.500.000.000 đồng; nợ lãi là 477.223.973 đồng.

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này’’. (trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).

2. Trường hợp ông H và bà G không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý, phát mãi tài sản thế chấp mà ông Hoè, bà G và các con của của ông, bà là chị Trần Thị Hoài T, chị Trần Thị Minh T, chị Trần Thị Kim C đã thế chấp theo Hợp đồng thể chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 828/HĐTC ngày 26/6/2017 mà các bên đã ký kết, để thu hồi nợ.

3. Về án phí:

- Buộc bị đơn là ông H và bà G phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 71.316.719đ (Bảy mươi mốt triệu ba trăm mười sáu nghìn bảy trăm mười chín đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam-Chi nhánh G số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.228.779đ (Ba mươi mốt triệu hai trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền số 0006215 ngày 27/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C , tỉnh G .

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

Buộc oog H và bà G phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; Bị đơn là ông H và bà G có nghĩa vụ thanh toán lại chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần C TViệt Nam-Chi nhánh G đã ứng trước.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn là bà G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là ông H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp Bản, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ