vanban.org

Bản án 18/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
T A N NH N D N
HUYỆN ĐỊNH QU N
T NH Đ N NA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2020
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC C N H A X H CH N H A V ỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QU N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông

Bà Trương Thị Lệ Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 670/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07/4/2020, giữa:

- Nguyên đơn: Ông L Văn L, sinh năm: 1960.

Địa chỉ: Số 38, phố 3, ấp 2, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Sằn Thị S, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Số 38, phố 3, ấp 2, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

N DUN V N:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ông L Văn L trình bày:

Tôi và Bà S tự nguyện đi đến kết hôn, được UBND xã Phú Hoa, huyện Tân Phú (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33/83, quyển số 01 ngày 24/5/1983.

Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cải vã nhau; nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người không còn hợp nhau. Chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay.

Hiện nay tôi không còn tình cảm gì với Bà S, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với Bà S.

Về con chung: Tôi và Bà S có 04 con chung là Lộc Sỳ Vồ – sinh năm 1983, Lộc Sỳ Vềnh – sinh năm 1986, Lộc Sỳ Phương – sinh năm 1990, Lộc Sỳ Tống – sinh năm 1992. Do các con đều đã thành niên và có khả năng lao động, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn bà Sằn Thị S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng Bà S đều vắng mặt nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông L Văn L

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông L Văn L được ly hôn với Bà Sằn Thị S.

+ Về con chung: Đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Ông Lầm phải chịu án phí theo quy định.

NH N ĐỊNH C A T A N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ông L Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Sằn Thị S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lầm và Bà S.

[2] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông L Văn L và bà Sằn Thị S tự nguyện đăng ký kết hôn, được UBND xã Phú Hoa, huyện Tân Phú (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33/83, quyển số 01 ngày 24/5/1983 (nay là xã P, huyện Định Quán). Căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 xác định hôn nhân giữa Ông L Văn L và bà Sằn Thị S là hôn nhân hợp pháp.

Theo nguyên đơn ông Lầm trình bày: Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cải vã nhau; nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người không còn hợp nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, nên ông xin được ly hôn với Bà S.

Tòa án đã xác minh tại địa phương (phố 3, ấp 2, xã P, huyện Định Quán) về tình trạng hôn nhân của ông Lầm và Bà S, kết quả như sau: tình trạng hôn nhân của ông Lầm và Bà S là trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, Bà S không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên chơi cờ bạc, năm 2014 Bà S bị Tòa án xét xử về tội “đánh bạc” nhưng vẫn không thay đổi mà tiếp tục chơi cờ bạc; hai người đã sống ly thân.

Bị đơn bà Sằn Thị S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng Bà S đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Điều này cho thấy Bà S không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với ông Lầm nữa, không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do Bà S không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Theo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định tình trạng hôn nhân giữa ông Lầm và Bà S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông L Văn L về việc xin ly hôn với bà Sằn Thị S.

[3.2] Về con chung:

Ông Lầm và Bà S có 04 con chung là Lộc Sỳ Vồ – sinh năm 1983, Lộc Sỳ Vềnh – sinh năm 1986, Lộc Sỳ Phương – sinh năm 1990, Lộc Sỳ Tống – sinh năm 1992. Do các con chung của ông Lầm, Bà S đều đã thành niên và có khả năng lao động và đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Do chưa có lời khai của Bà Sằn Thị S nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Ông L Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUY T ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của Ông L Văn L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông L Văn L được ly hôn với Bà Sằn Thị S.

2. Về con chung: Không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Ông L Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ông Lầm đã nộp, theo Biên lai thu số 0002815 ngày 30/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được trừ vào tiền án phí ông Lầm phải chịu.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. H Đ N XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CH TỌA PH ÊN T A

Cỡ chữ