- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty CP ĐL"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. T TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/KDTM-ST Ngày: 11/12/2020 V/v “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Dương Thị Phương Dung Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lý
Bà Nguyễn Thị Mộng Lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Chiêu Quyên - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 11 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 65/2019/TLST-KDTM ngày 05/12/2019 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐST-KDTM ngày 30/10/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-KDTM ngày 20/11/2020, giữa các đương sự sau:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần ĐL
Địa chỉ: 11 đường T, phường T, thành phố T.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cao K – Tổng giám đốc
Người đại diện thợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Hoàng T – Đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 5192/GUQ-ĐLKH ngày 06/11/2020)
Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V
Địa chỉ: 07 Quốc lộ 1A, thôn L, xã P, thành phố T.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn C – Giám đốc
Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tuyết V
Địa chỉ: 07 Quốc lộ 1A, thôn L, xã P, thành phố T.
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
Ngày 31/12/2010, Xí nghiệp lưới điện cao thế (Lúc đó là Xí nghiệp lưới điện 110kv) ký hợp đồng số 19-10/HĐTC thi công xây dựng với Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V, thi công các hạng mục của công trình theo hồ sơ thiết kế được duyệt. Tổng giá trị hợp đồng là 279.950.000 đồng đã bao gồm thuế GTGT và được thỏa thuận thanh toán thành 02 đợt.
- Đợt 1: tạm ứng 140.000.000 đồng sau khi hợp đồng được ký giữa hai bên.
- Đợt 2: thanh toán hết một lần số tiền còn lại của hợp đồng là 139.950.000 đồng trong vòng 10 ngày kể từ ngày công trình được nghiệm thu và đưa vào sử dụng và quyết toán giá trị khối lượng công việc thực hiện hoàn thành.
Xí nghiệp đã thi công xong công trình và tổ chức nghiệm thu vào ngày 10/6/2011. Công trình đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và đã được đóng điện đưa vào sử dụng có xác nhận của chủ đầu tư là ông Nguyễn Tấn C – Giám đốc Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V. Từ đó đến nay công trình vận hành ổn định, không xảy ra bất kỳ hư hỏng nào cần khắc phục sửa chữa.
Sau khi đóng điện nghiệm thu và đưa công trình vào sử dụng, Xí nghiệp đã làm đầy đủ hồ sơ hoàn công, quyết toán khối lượng và xuất hóa đơn GTGT cung cấp cho Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V vào ngày 01/11/2011 để Công ty thanh toán tiền.
Khi đơn vị hoàn thành công trình, Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V có các đợt thanh toán, cụ thể:
- Ngày 25/01/2011 tạm ứng 100.000.000 đồng.
- Ngày 21/12/2011 thanh toán 100.000.000 đồng.
Tổng số tiền hai đợt là 200.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải thanh toán là 79.950.000 đồng.
Xí nghiệp đã nhiều lần gửi công văn, gặp trực tiếp giám đốc Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V yêu cầu thanh toán số tiền còn lại nhưng Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V vẫn không thanh toán.
Vì vậy, Công ty cổ phần ĐL yêu cầu Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V phải thanh toán cho chúng tôi số tiền còn lại là 79.950.000 đồng. Ngoài ra chúng tôi không yêu cầu gì khác.
* Bị đơn Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết V đã được Toà án tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng vẫn không đến Toà nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai và hoà giải được.
* Tại phiên tòa: Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
.* Về thủ tục tố tụng:
Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn đơn Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết V nhưng đơn Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V, bà Nguyễn Thị Tuyết V không tham gia các buổi hoà giải và nhiều lần vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đơn Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V, bà Nguyễn Thị Tuyết V theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc Công ty cổ phần ĐL khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V thanh toán số tiền 79.950.000 đồng theo hợp đồng đã ký. Đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
.* Về nội dung:
[2.1] Công ty cổ phần ĐL yêu cầu Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V thanh toán số tiền 79.950.000 đồng.
Xét:
Hợp đồng thi công xây dựng số 19-10/HĐTC được ký vào ngày 31/12/2010 được ký giữa Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V và Xí nghiệp lưới điện 110KV – Công ty cổ phần ĐL, tại trang 7 dưới phần Đại diện bên giao thầu là chữ ký của bà Nguyễn Thị Tuyết V có đóng dấu của Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V. Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V là ông Nguyễn Tấn C, bà Nguyễn Thị Tuyết V là thành viên góp vốn của công ty. Tuy nhiên, biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình để đưa vào sử dụng ngày 10/6/2011 và biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/6/2012 có chữ ký của ông Nguyễn Tấn C và đóng dấu của Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V. Như vậy thể hiện ông Nguyễn Tấn C có biết việc ký kết hợp đồng số 19-10/HĐTC được ký vào ngày 31/12/2010 và Công ty cổ phần ĐL đã thi công đúng như hợp đồng đã ký.
Công ty cổ phần ĐL đã thực hiện đúng nhiệm vụ của mình là thi công theo đúng hợp đồng, điều này thể hiện qua các bảng nhật ký công trình và việc Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V có các đợt thanh toán, cụ thể:
- Ngày 25/01/2011 tạm ứng 100.000.000 đồng.
- Ngày 21/12/2011 thanh toán 100.000.000 đồng.
Tổng giá trị hợp đồng là 279.950.000 đồng đã bao gồm thuế GTGT. Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V đã thanh toán cho Công ty cổ phần ĐL 200.000.000 đồng. Số tiền còn lại 79.950.000 đồng bị đơn vẫn chưa thanh toán cho nguyên đơn.
Qua xem xét, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy việc Công ty cổ phần ĐL khởi kiện yêu cầu cầu Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V thanh toán số tiền 79.950.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Vì vậy, xét đây là yêu cầu chính đáng của nguyên đơn và hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận đối với yêu cầu của Công ty cổ phần ĐL.
.Về án phí:
Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí KDTM-ST do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 3.997.500 đồng. Hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 85, Điều 87 Luật thương mại;
- Căn cứ Điều 146 Bộ Luật Dân sự năm 2005;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V thanh toán cho Công ty cổ phần ĐL số tiền 79.950.000 đồng (bảy mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng)
Kể từ ngày Công ty cổ phần ĐL có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V không thi hành khoản tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Công ty TNHH xây dựng thương mại và dịch vụ V phải nộp 3.997.500 đồng (ba triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn lại cho Công ty cổ phần ĐL số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2016/0015676 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP. T; - Đương sự; - THADS Tp T; - TAND tỉnh H; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Dương Thị Phương Dung |