- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hỏng TS - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình C phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 18/2020/HSST Ngày: 15 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Lò Thị Dỉnh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Thắng, là Kiểm sát viên;
Ngày 15 tháng 4 năm 2020 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2020; quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST - HS ngày 20/3/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đình C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 13 tháng 5 năm 1987, tại Điện Biên; nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường H, thành phố Đ, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Ch và bà Bùi Thị X; vợ: Hồ Thị V; con: Có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Năm 2009 bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi gây rối trật tự công cộng và sử dụng vũ khí vật liệu nổ không có giấy phép; đã thi hành xong ngày 17/8/2009; bị tạm giam từ ngày 22/01/2020, đến ngày 28/02/2020 được thay đổi bằng biện pháp Bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Ngô Văn D; địa chỉ: Đội 7b, xã P, huyện Đ, tỉnh B; vắng mặt.
Ngƣời làm chứng:
+ Ông Lê Đức T; địa chỉ: Đội 6, xã T, huyện Đ, tỉnh B; vắng mặt;
+ Ông Phạm Văn H; địa chỉ: Tổ dân phố 11, phường M, thành phố Đ, tỉnh B; vắng mặt;
+ Ông Hà Văn T; địa chỉ: Đội 6, xã T, huyện Đ, tỉnh B; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 04/10/2019, tại bến xe khách tỉnh Điện Biên (thuộc tổ dân phố 4, phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ); trong khi tranh giành khách, lái xe của nhà xe Lê D, trong đó có Lê Đình C đánh nhau với lái xe của nhà xe Trường Thành, trong đó có Ngô Văn D. Sau khi được can ngăn, do bực tức Lê Đình C đã nhảy lên xe ô tô hiệu TOYOTA-VIOS sản xuất năm 2019, biển kiểm soát 27A-052.88 của Ngô Văn D đang đỗ tại bến xe, rồi nhảy lên dùng hai chân dậm một nhát vào kính chắn gió phía trước bên ghế lái, làm kính xe bị vỡ rạn nứt hình mạng nhện, kích thước khoảng 80cm x 130cm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của mình; người bị hại khai về việc tài sản của mình bị hư hỏng; người làm chứng khai về việc nhìn thấy bị cáo cố ý làm rạn vỡ kính xe ô tô như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
2. Các vấn đề khác: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 10.000.000 đồng, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác. Bản kết luận định giá tài sản số 75/QĐ ngày 16/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Kính chắn gió phía trước xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS biển kiểm soát 27A - 052.88 sản xuất 2019, bị thiệt hại 90%, trị giá 9.368.000 đồng. Do bị cáo khiếu nại về giá, nên ngày 26/12/2019 và ngày 13/01/2020 Hội đồng tiến hành định giá lại và đều kết luận kính chắn gió nói trên trị giá 10.408.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có khiếu nại về kết luận giá lại nêu trên.
3. Cáo trạng số 13/CT-VKSTPĐBP ngày 28/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản", theo khoản 1 Điều 178 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản"; áp dụng khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; khấu trừ cho bị cáo 38 ngày tạm giam theo quy định; miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Lời khai của bị cáo, của người bị hại và của người làm chứng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 04/10/2019, tại bến xe khách tỉnh Điện Biên; sau khi xảy ra xô sát với các lái xe khác khi tranh giành khách, do bực tức bị cáo Lê Đình C đã nhảy lên và dùng hai chân dậm, làm rạn vỡ kính phía trước trước, trị giá 10.408.000 đồng xe ô tô hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 27A - 052.88, sản xuất năm 2019 của ông Ngô Văn D.
Theo khoản 1 Điều 178 BLHS thì: "Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm". Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo điều luật đã viện dẫn ở trên.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; năm 2009 đã một lần bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi gây rối trật tự công cộng, sử dụng vật liệu nổ không có giấy phép; bị cáo đã thi hành xong cùng năm 2009, nên không còn là tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường cho người bị hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố, mẹ bị cáo được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng theo Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng; xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, nên HĐXX áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên HĐXX áp dụng hình phạt ở mức khởi điểm của điều luật. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án vì bị cáo có hai con nhỏ, thu nhập chỉ đủ để đảm bảo cuộc sống gia đình, hiện tại cũng không hành nghề lái xe được do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID19.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 178 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm"; tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo mới hành nghề lái xe thuê, thu nhập không ổn định; do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bồi thường dân sự: Không có yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Vật chứng và các vấn đề khác: Cơ quan Công an đã trả lại xe ô tô BKS 27A
- 052.88 có kính bị rạn vỡ cho anh Ngô Văn D, anh D không có yêu cầu khác về việc này nên HĐXX không đề cập giải quyết. Hành vi đánh nhau, gây mất trật tự công cộng của bị cáo và một số đối tượng khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí và án phí Tòa án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình C phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
2. Hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giam từ ngày 22/01/2020, đến ngày 28/02/2020 là 38 ngày, quy đổi bằng 114 ngày (03 tháng 24 ngày) cải tạo không giam giữ (01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ); bị cáo còn phải thi hành 02 (hai) tháng 06 (sáu) ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đ, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú, thực hiện theo quy định tại Điều 100 và Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đ, tỉnh B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
3. Bồi thường dân sự, vật chứng: Không đề cập giải quyết.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/4/2020). Nếu những người này vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Viện kiểm sát TP.ĐBP; - Viện kiểm sát tỉnh ĐB; - Cơ quan CSĐT công an TP.ĐBP; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Trại tạm giam; - Cơ quan điều tra Công an TPĐBP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - HS Thi hành án HS; - Chi cục Thi hành án DSTPĐBP; - TAND tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |