vanban.org

Bản án 18/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 23.5.2020. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí số tiền là 200.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HSST
Ngày 16/6/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Trúc Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bù i Hữ u Khá nh

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C.

Ông Nguyễn Văn Mầm

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngươn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/HSST ngày 21 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số: 11/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2020 đối với bị cá o:

- Họ và tên: Nguyễ n Văn Đ, sinh năm 1988; tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiệ n nay: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn K (1953) và bà Hồ Thị V (1954); vợ Nguyễ n Thị Ú t E (1987) và 02 ngườ i con; Tiề n á n, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắ t và tạm giam ngày 23.5.2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trầ n Hả i T, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Đị a chỉ : Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 31.12.2019 Đ đi đá m tạ i nhà chị Nguyễ n Thị P ở ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đế n khoảng 14 giờ cù ng ngà y, Đ ra phí a sau nhà của chị P thấ y 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Xiaomi 9T 128 màu xanh ánh băng của anh Trần Hải T đang nằ m dướ i nề n gạ ch gầ n bộ vá n nơi anh T đang nằ m ngủ nên nả y sinh ý đị nh lấ y t rộ m điệ n thoạ i để sử dụ ng . Đ dùng tay phải lấy điệ n thoạ i bỏ vào túi quần phía trước đang mặc trên ngư ời rồi đi về nhà . Khi về nhà , Đ lấ y điệ n thoạ i trộ m đượ c chỉ nh chế độ im lặ ng rồ i b ỏ vào túi quần đang treo trê n sà o quầ n á o để cấ t giấ u.

Đế n ngà y 02.01.2020 Đ đem điệ n thoạ i lấ y trộ m củ a anh T đến của hàng điệ n thoạ i di độ ng Duy Xuân do chị Bùi Mộng N làm chủ thuê mở khóa với giá 300.000 đồ ng. Chiề u cù ng ngà y Đ trở lạ i cử a hà ng vớ i mộ t thanh niên tên L để lấy điệ n thoạ i nhưng chủ cử a hà ng nó i không mở đượ c nên Đ nhờ chủ cửa hàng tháo 02 sim né m bỏ trước cửa hàng điện thoại, còn điện thoại đem về nhà cất giấu.

Sau khi mấ t điệ n thoạ i , anh T có đi tìm và định vị nhưng không tìm được điệ n thoạ i. Đế n ngà y 06.01.2020 anh T đị nh vị đượ c vị trí cuố i cù ng điệ n thoạ i ở cử a hà ng điệ n thoạ i Duy Xuân nên trì nh bá o công an . Qua điề u tra , cơ quan cả nh sát điều tra xác định được Đ là người thuê mở khóa điện thoại của anh T nên mờ i về là m việ c, Đ thừ a nhậ n hà nh vi phạ m tộ i.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS, ngày 12.01.2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận:

- 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Xiaomi 9T 128 màu xanh ánh băng còn 70% giá trị x 8.300.000 đồ ng = 5.810.000 đồng.

- 02 sim điệ n thoạ i cò n 100% giá trị x 50.000 đồ ng = 100.000 đồ ng.

- Ốp lưng không tính giá trị.

Tổ ng cộ ng là 5.910.000 đồ ng.

Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 20 tháng 4 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Phía bị hại không có yêu cầu về trá ch nhiệ m dân sự nên không đặt ra xem xét.

Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa , bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đú ng nh ư nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 31.12.2019 Đ lợ i dụ ng lúc anh T ngủ say đã có hà nh vi lé n lú t lấ y trộ m

mộ t điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Xiaomi 9T 128 màu xanh ánh băng trị giá 5.810.000 đồ ng, 02 sim điệ n thoạ i trị giá 100.000 đồ ng, ốp lưng không tính giá trị ; tổ ng cộ ng là 5.910.000 đồ ng với mục đích để sử dụ ng cho cá nhân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa P; gây tâm lý lo âu cho người dân trong việc quản lý tài sản.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không thuộc trường hợp để áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt , chưa có tiề n á n , tiề n sự . Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lầ n đầ u thuộ c trườ ng hợ p í t nghiêm tr ọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại có đơn bã i nạ i xin giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cá o . Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Tuy nhiên, trong thờ i gian bị cá o đượ c tạ i ngoạ i thì Ủ y ban nhân dân xã Đ có kiến nghị về việc thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo , do bị cáo thường xuyên tụ tập với thanh thiếu niên tại địa phương tổ chứ c sử dụ ng trá i phé p chấ t ma túy, đi khỏ i nơi cư trú mà không có sự cho phé p củ a cơ quan có thẩ m quyề n , gây mấ t an ninh trậ t tự tại địa phương. Do đó , Hộ i đồ ng xé t xử xé t t hấ y, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành người tốt và nhằm mục đích răn đe cho toàn xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là phù hợp nên Hộ i đồ ng xé t xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận lại tài sản là điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Xiaomi 9T 128 màu xanh ánh băng và ốp lưng điện thoại . Đối với 02 sim điệ n thoại bị cáo đã bẻ gãy, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối vớ i ngườ i thanh niên tên L chạy xe chở bị cáo đến cửa hàng để lấy điện thoại, trong quá trì nh điề u tra Cơ quan cả nh sá t điề u tra xá c đị nh không liên quan vụ án nên không đề cặp xử lý là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu số tiề n là 200.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 23.5.2020.

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí số tiền là 200.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Trầ n Hả i T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ