- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Bảo T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Bảo T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày: 06-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Thị Diệu Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hùng Bích.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Chí.
- Thư ký phiên t a: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/HS-ST
ngày 07 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
23/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Phan Bảo T, sinh ngày 25/6/2001 tại huyện C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: số
16C6, khóm B, phường K, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; Trình độ học vấn:
4/12; Con ông Phan Thành B, sinh năm 1981 và bà Võ Thị D, sinh năm 1983.
Ngày 07/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm
cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản.
- Tiền án, tiền sự: Không
- Bị tạm giam ngày 30/11/2019 cho đến nay.
- Bị cáo có m t tại phiên tòa.
- Bị hại: ông Hồ Minh Đ, sinh năm 1969 (Vắng m t).
Nơi cư trú: số 11C2, khóm B, phường K, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người c uy n l i ngh a v liên uan: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm
1981. (Vắng m t).
Nơi cư trú: số 942/48 Võ Văn H, khóm B, phường K, thành phố L, tỉnh An
Giang.
- Những người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Thế M, sinh năm 1979. (Vắng m t).
Nơi cư trú: số 72/8, khóm B, phường K, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Ông Trần Vĩnh H, sinh năm 1968. (Vắng m t).
Nơi cư trú: số 24/12A, tổ 12A, khóm B, phường K, thành phố L, tỉnh An
Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 07 tháng 11 năm 2019, Phan Bảo T bị Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ ngày 30/11/2019, T đem theo 02 cờ lê (chìa khóa) 13, 02 cây kiềm, 01 cây kéo, 01 cây vít và mượn xe đạp của anh Nguyễn Ngọc H điều khiển đến khu vực phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến công trình xây dựng nhà chị Phạm Thị Kim Bình tại tổ 10, khóm Bình Đức 5, phường Bình Đức thấy cửa rào khóa nên T dựng xe đạp phía trước, trèo qua cửa rào vào trong công trình dùng tay bẻ vách tol chui vào nhà kho lấy trộm 01 cuộn dây điện hiệu Cadivi 2.5, loại cáp đơn của anh Hồ Minh Đ là thầu xây dựng nhà cho chị Bình, đem ra ngoài để trước cửa kho. Sau đó, T quay trở vào dùng cây kéo cắt sắt ổ khóa rương đựng công cụ lao động của anh Đ lấy trộm: 01 motor điện hiệu T Phát, 01 máy cưa đĩa cầm tay hiệu Crown và 01 máy tời điện kéo mini hiệu KOB-213. T để lại cuộn dây điện, để motor điện, máy cưa đĩa, máy tời lên xe đạp dẫn đi được khoảng 30m hướng về cầu Nguyễn Trung Trực bị anh Nguyễn Thế M hỏi đi đâu thì T bỏ chạy. Lúc này, anh Mỹ tri hô trộm cho anh Trần Vĩnh H và Vũ Đình Tiếp ở gần đó đuổi theo bắt giữ T giao cho Công an phường Bình Đức.
Ngày 30/11/2019, Phan Bảo T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố
Long Xuyên ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Căn cứ Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 334/KL-HĐ ngày
30/11/2019, số 03/KL.HĐ ngày 15/01/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: 01 motor điện nhãn hiệu T Phát, 01 máy cưa đĩa cầm tay nhãn hiệu Crown, 01 máy tời điện kéo mini hiệu KOB-213, 02 sợi dây điện hiệu Cadivi 2.5 có tổng trị giá 4.584.537 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 21/CT.VKS ngày 06 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Phan Bảo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung
truy tố đối với bị cáo Phan Bảo T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Bảo T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 04 (Bốn) tháng tù (được chuyển đổi từ 01 năm cải tạo không giam giữ) tại bản án số 120/2019/HSST ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Hồ Minh Đ đã nhận lại được tài sản nên không
đề nghị xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa
đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 02 cây
kiềm, 01 cây kéo, 01 cây vít, 02 cờ lê 13, 01 túi nylon đã qua sử dụng được thu giữ
trong quá trình điều tra.
Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố,
không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t nhưng
trong quá trình điều tra có lời khai trình bày: Tài sản bị mất trộm là 01 motor điện
nhãn hiệu T Phát, 01 máy cưa đĩa cầm tay nhãn hiệu Crown, 01 máy tời điện kéo
mini hiệu KOB-213, 02 sợi dây điện hiệu Cadivi 2.5 có tổng trị giá 4.584.537 đồng
như nội dung vụ án đã nêu, bị hại Hồ Minh Đ đã nhận lại được tài sản nên không yêu
cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H không biết
việc bị cáo mượn xe đạp sử dụng đi trộm cắp tài sản và đã nhận lại xe nên không có
yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra
viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy
định pháp luật.
M c dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng
tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng m t. Tuy nhiên,
những người vắng m t đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng m t của họ
không gây cản trở cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng
m t theo quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng
mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với
lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, người liên
quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ trên, đã có đủ cơ sở xác định, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của
ông Hồ Minh Đ trong việc quản lý tài sản, thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01
motor điện nhãn hiệu T Phát, 01 máy cưa đĩa cầm tay nhãn hiệu Crown, 01 máy tời
điện kéo mini hiệu KOB-213, 02 sợi dây điện hiệu Cadivi 2.5 có tổng trị giá
4.584.537 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài
sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2017.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được
hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật, xét bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về hành vi trộm cắp tài sản, lẽ ra trong thời gian chờ chấp hành hình phạt bị cáo phải tích cực lao động tạo thu nhập chân chính để nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình, có ý thức tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội nhưng ngược lại vì tham lam, lười lao động, muốn có nhiều tiền tiêu xài bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của ông Hồ Minh Đ, điều này cho thấy sự liều lĩnh, bất chấp pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực
tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa chấp hành hình phạt 01 năm cải tạo
không giam giữ tại bản án số 120/2019/HSST ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên. Do đó, cần tổng hợp hình phạt tại bản án này và hình phạt 01 năm cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 04 tháng tù (trong đó chuyển đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù) để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.
. Về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ rõ thái độ thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 cây kiềm, 01 cây kéo, 01 cây vít,
02 cờ lê 13, 01 túi nylon đã qua sử dụng được thu giữ trong quá trình điều tra.
. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập
không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi
thường nên không xem xét, giải quyết.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Bảo T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật
hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2017, khoản 2 Điều 106, Điều 135, các Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Phan Bảo T 01 (Một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 04
(Bốn) tháng tù (được chuyển đổi từ 01 năm cải tạo không giam giữ thành 04 tháng tù)
tại bản án số 120/2019/HSST ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang đã xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo chấp
hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn
tù tính từ ngày 30/11/2019.
Tịch thu tiêu hủy: 02 cây kiềm đã qua sử dụng, 01 cây kéo đã qua sử dụng, 01
cây tuốc nơ vít đã qua sử dụng, 02 cờ lê 13 đã qua sử dụng, 01 túi nylon đã qua sử
dụng. Các vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản
lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 02 năm 2020.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày
tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm
yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
| Nơi nhận: - VKSND TP Long Xuyên (2); - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang(1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà tạm giữ (2); - Chi cục THADS TP Long Xuyên (1); - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Diệu Tiên |