- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 2 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích". Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H - Tỉnh TT H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------- Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày: 14/02/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH TT HUẾ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Quang Bình .
Các hội thẩm nhân dân:
1. ông Nguyễn Văn Vỵ
2. bà Trần Bích Thủy
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thuận, là thư ký Tòa án nhân dân thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Minh. Kiểm sát viên .
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố H (60 Nguyễn Huệ- thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST- HS, ngày 18 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; sinh ngày: 30 tháng 5 năm 1988 tại tỉnh TTH. Nơi cư trú: 18/187 PĐP, phường PN, thành phố H, tỉnh TTH; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N và bà: Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
-Bị hại:
Ông Hồ Văn Th, sinh năm 1960
Địa chỉ: 14/3/187 PĐP, phường PN, thành phố H, tỉnh TTH (có mặt)
-Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị H(có mặt), Hồ Thị N(có mặt), Ngô Văn T(có mặt), Nguyễn Văn Tr(có mặt), Phan Thị Mỹ D(có mặt), Huỳnh Văn Ch(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ, ngày 18/8/2019, chị Phan Thị Mỹ Dlà con dâu của ông Ngô Văn T, đến nhà ông T để đón con về nhà ăn cơm. Ông T muốn chị Linh cho cháu ở lại chơi thêm, nhưng chị Linh không đồng ý, nên giữa chị Dvà ông T có lời qua tiếng lại và gây gổ nhau, ông T có dùng tay tát vào mặt của chị D một cái. Tại nhà ông T lúc này có ông Hồ Văn Th là anh rể của ông T, thấy vậy cũng có lời lẽ gây gổ với chị D. Chị Dvề gặp người yêu của mình là Nguyễn Văn H, nói rằng bị ông T và ông Th đánh, nên H đã lấy một cây dao, được gắn vào cây gậy 3 khúc có thể kéo dài khoảng 60cm, chạy sang nhà ông T, đứng ở phía ngoài chửi bới ông T và ông Th, sau đó đi về nhà.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Th đang ngồi uống bia ở trước số nhà 14/187 Phan Đình PH thì gặp mẹ của Nguyễn Văn H là bà Nguyễn Thị H, ông Th gọi bà Hđứng lại nói chuyện. Bà Hkhông đồng ý nói chuyện, nên ông Th có lời lẽ lớn tiếng chửi bới bà Hương. Lúc này, Nguyễn Văn H đang đút cơm cho con ăn ở gần đó, thấy vậy liền chạy vào nhà lấy một cây dao được gắn vào cây gậy 3 khúc có thể kéo dài khoảng 60cm, chạy đến nơi ông Th đang ngồi uống cà phê, tay phải cầm dao đâm một nhát vào người ông Th, rồi bỏ trốn cho đến ngày 20/08/2019 đến đầu thú ở cơ quan điều tra.
Ông Th bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện trung ương H.
-01 con dao bằng kim loại được gắn vào cây gậy gấp khúc có thể kéo dài khoảng 60cm, H khai đã thất lạc trong khi bỏ trốn, cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 424-19/TgT ngày 07/10/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh TTH kết luận thương tích của ông Hồ Văn Th như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định:
Vết thương thấu ngực tràn dịch, tràn khí màng phổi phải lượng nhiều đã phẩu thuật dẫn lưu khoang màng phổi hiện còn tràn dịch màng phổi phải, giảm thông khí phổi, ảnh hưởng hô hấp.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 20%
Vật gây và cơ chế hình thành: vật sắt nhọn tác động vào thành bên ngực phải theo hướng phải sang trái
Về trách nhiệm dân sự: ông Hồ Văn Th yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường chi phí điều trị và mất thu nhập là 42.026.000 đồng, Nguyễn Văn H đã bồi thường 5.000.000đồng, số tiền còn lại ông Th tiếp tục yêu cầu H bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo và bị hại thỏa thuận là bị cáo tiếp tục bồi thường tất cả các chi phí do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho ông Th là 10.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-HS ngày 07/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Nguyễn Văn H về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại là bị cáo phải bồi thường tiếp cho ông Hồ Văn Th số tiền 10.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Vào khoảng 17 giờ, ngày 18/8/2019, tại trước số nhà 14/187 đường PĐP, phường PN, thành phố H, tỉnh TTH, do có thấy ông Hồ Văn Th gây gổ với mẹ của mình, nên Nguyễn Văn H đã dùng dao đâm vào người ông Hồ Văn Th gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội cố ý gây thương tích. Bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho ông Hồ Văn Th, nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: Cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, là có cơ sở đúng pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khoẻ của người khác nên dẫn đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây thương tích cho người khác mà còn gây mất an ninh trật tự tại nơi công cộng, nên cần xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe kẻ khác.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sau khi gây án, bị cáo bỏ trốn, sau đó đầu thú tại cơ quan điều tra, trường hợp này được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, thỏa thuận là: Nguyễn Văn H phải bồi thường tiếp cho ông Hồ Văn Th tất cả các khoản chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, mất thu nhập…, tổng cộng là 10.000.000 đồng. Xét thỏa thuận này là phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại tại phiên tòa.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm a Điều 3; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về thu nộp án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 2 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích". Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
-Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, cụ thể là: Nguyễn Văn H phải bồi thường tiếp cho ông Hồ Văn Th tất cả các khoản chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, mất thu nhập…, tổng cộng là 10.000.000 đồng.
-Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng.
-Án phí dân sự sơ thẩm: buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản lãi, theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: +TA tỉnh TT H +VKS Tỉnh TT H +VKS TP Huế. +THA TP Huế +Công an TP H +Sở Tư pháp +PV 27 +Bị cáo +Những người tham gia tố tụng +Lưu HS, dán án | Hoàng Quang Bình |