vanban.org

Bản án 18/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn T 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù, tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2019/HSST ngày 31/10/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ, buộc Lƣơng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2019. Về án phí: Áp dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HS-ST
Ngày 21-02-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2019/HSST ngày 11-12-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 77/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/HSST-QĐ ngày 03/01/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/HSST-QĐ ngày 16/01/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06a/2020/HSST-QĐ ngày 06/02/2020 đối với bị cáo:

Lƣơng Văn T, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lƣơng Xuân Tr và bà Phùng Thị Th; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 07/8/2019 bị Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 24 ngày 02/7/2014 của TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2015;

Bản án hình sự sơ thẩm số 13 ngày 24/02/2017 của TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/7/2017;

Bản án hình sự sơ thẩm số 52 ngày 31/10/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng trong vụ án khác, đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người bị hại:

+ Chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1985;

Trú tại: thôn C, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Phùng Thế V, sinh năm 1984.

Trú tại: thôn C, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

+ Anh Trần Văn L, sinh năm 1988.

Trú tại: thôn H, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

+ Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1959;

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981;

+ Anh Lƣơng Văn T1, sinh năm 1987;

Đều trú tại: thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Do không có tiền để chi tiêu cá nhân, nên khoảng 03 giờ, ngày 17/9/2019, T đi bộ từ nhà đến khu vực C, xã Q mục đích xem có gia đình nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. T quan sát thấy nhà chị Đặng Thị Thu H ở cạnh đƣờng tỉnh lộ 391 không có cổng, tƣờng bao. T đi vào quan sát thấy cửa lách bằng gỗ có khe hở nên đã dùng tay cạy thanh sắt (chốt cài ngang cửa) đi vào trong nhà. T đi vào gian phòng ngủ của vợ chồng chị H, anh Phùng Thế V, qua ánh sáng đèn ngủ, T quan sát thấy vợ chồng chị H đang ngủ, tại vị trí đầu giƣờng (cạnh tủ nhựa, loại đựng đồ chơi trẻ em) có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu hồng, dung lƣợng bộ nhớ 32GB, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng, mặt sau đƣợc ốp lƣng bằng nhựa màu đen (hai điện thoại đều thuộc sở hữu của chị H). T lấy hai chiếc điện thoại trên rồi theo lối cũ ra ngoài đứng trƣớc cửa nhà anh V. T kiểm tra thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu hồng không cài đặt mật khẩu nên T cất vào túi quần, còn chiếc điện thoại Iphone 6S có cài mật khẩu, không mở đƣợc xác định khó bán nên T bỏ lại trên đôi dép nhựa ở trƣớc hiên nhà giáp đƣờng 391. Đến khoảng hơn 7 giờ, cùng ngày, T nhờ anh Nguyễn Văn T ở cùng thôn chở đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Trần Văn L ở thôn H, xã C, huyện Tứ Kỳ, T bán chiếc điện thoại Iphone 7Plus cho anh L với giá 5.200.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị H, anh V đã kiểm tra hình ảnh camera lắp đặt tại nhà mình thì phát hiện T là ngƣời đã trộm cắp tài sản. Do biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện nên ngày 18/9/2019, T đã đƣa tiền cho ông Trần Văn Đ ở cùng thôn đến cửa hàng điện thoại của anh L để mua lại chiếc điện thoại Iphone 7Plus trả lại cho chị Đặng Thị Thu H. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S, màu hồng T bỏ lại trên đôi dép nhựa, sáng ngày 17/9/2019, anh Lƣơng Văn T1 đã nhặt đƣợc, sau đó đã trả lại cho chị H.

Tại kết luận định giá tài sản số 44/KL-ĐGTS ngày 11/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND huyện Tứ Kỳ kết luận:

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7Plus, màu hồng, dung lƣợng bộ nhớ 32Gb, đã qua sử dụng, đƣợc mua vào tháng 01/2019, tại thời điểm ngày 17/9/2019, tài sản có giá trị 6.500.000 đồng;

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6S, màu hồng, dung lƣợng bộ nhớ 64Gb, đã qua sử dụng, đƣợc mua vào tháng 7/2016, tại thời điểm ngày 17/9/2019, tài sản có giá trị 3.000.000 đồng;

- 01 ốp lƣng màu đen bảo vệ máy Iphone 6S, đƣợc mua mới và sử dụng từ tháng 10/2018, tại thời điểm ngày 17/9/2019, tài sản có giá trị 15.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSTK ngày 11-12-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Lƣơng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Lƣơng Văn T từ 09 đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù, tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2019/HSST ngày 31/10/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ, buộc Lƣơng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với T, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trƣớc khi mở phiên toà, bi cáo Lƣơng Văn T đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Ngƣời bị hại chị Đặng Thị Thu H đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, chị đã nhận đủ tài sản, không yêu cầu bồi thƣờng về trách nhiệm dân sự; Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Lƣơng Văn T đã đƣợc triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên toà. Tuy nhiên bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 BLTTHS, HĐXX xét xử vắng mặt bị cáo T.

Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 17/9/2019, lợi dụng gia đình chị Đặng Thị Thu H không khoá cửa lách, Lƣơng Văn T đã lén lút, cậy cửa trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus màu hồng trị giá 6.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6S màu hồng trị giá 3.000.000 đồng, 01 ốp lƣng điện thoại bằng nhựa màu đen, trị giá 15.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 9.515.000 đồng. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc trộm cắp tài sản của ngƣời khác là trái pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Vì vậy, VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác mà còn gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự trị an tại địa phƣơng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, cần phải đƣợc xử lý theo quy định pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhƣng là ngƣời có nhân thân không tốt, thể hiện bị cáo đã nhiều lần bị kết án và cùng thời điểm bị cáo còn thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản và bị TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 52 ngày 31/10/2019. Tuy nhiên do cùng thời thiểm bị cáo thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản ở huyện Tứ Kỳ, hành vi phát hiện trƣớc đƣợc xét xử trƣớc, hành vi phát hiện sau đƣợc xét xử sau nên lần phạm tội này, bị cáo không phải chịu tình tiết phạm tội nhiều lần và tái phạm nguy hiểm, nhƣng điều đó chứng tỏ bị cáo là ngƣời coi thƣờng kỷ cƣơng pháp luật, cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật.

Mặc dù quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội, đã tác động để ngƣời thân chuộc lại tài sản đã trộm cắp trả cho ngƣời bị hại nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, nhƣng căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội. Do bị cáo đang phải chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự; Chị Đặng Thị Thu H đã nhận lại 02 chiếc điện thoại và ốp lƣng bằng nhựa và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, do vậy HĐXX không đặt ra giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn T khi chở T đi bán điện thoại và anh Trần Văn L là ngƣời mua điện thoại nhƣng không biết tài sản do T trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm.

Về xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại di động và một ốp điện thoại mà T đã chiếm đoạt, chị H đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không đặt ra việc giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 290 BLTTHS;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn T 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù, tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2019/HSST ngày 31/10/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ, buộc Lƣơng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2019.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lƣơng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ