vanban.org

Bản án 18/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 03/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 26/8/2020). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H bị truy tố và xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HS-ST
Ngày 03/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Văn Sơn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đông và ông Nguyễn Trung Bang;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H – tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/9/1996, tại TY, Quảng Ninh; nơi cư trú: Phố HB, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Trung và bà Trần Thị Châu; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/8/2020, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Đỗ Thế A – sinh năm 2001. Vắng mặt.

2. Anh Ngô Đức A1 – sinh năm 1994. Vắng mặt.

3. Anh Lương Văn T – sinh năm 1957. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 15 phút ngày 26/8/2020, tổ công tác Công an huyện TY làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra phòng trọ của Nguyễn Đức H thuê tại phố ĐT, thị trấn TY, phát hiện bắt quả tang Hòa bán trái phép chất ma túy (Cần sa) cho Đỗ Thế A (Sinh năm 2001; trú tại phố ĐT 1, thị trấn TY) với giá 100.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đỗ Thế A 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (04 x 7,5)cm bên trong chứa ma túy (Cần sa); thu giữ trong túi quần bên trái của Nguyễn Đức H số tiền 1.130.000 (một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) đồng, trong đó có 100.000 đồng tiền bán ma túy; Thu giữa tại gầm gường trong phòng trọ 01 (một) thùng nhựa màu trắng đỏ, kích thước (26 x 37 x30)cm, bên trong có ma túy (Cần sa) và 11 (mười một) túi nilon màu trắng, đều có kích thước (04 x 7,5)cm, bên trong chứa Cần sa.

Tại Kết luận giám định số 1211/KLGĐ ngày 31/8/2020 và Kết luận giám định số 1212/KLGĐ ngày 01/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Túi nilon màu trắng kích thước (04 x 7,5)cm bên trong chứa thực vật khô - mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Cần sa, có khối lượng 1,412g (một phẩy bốn một hai gam); thực vật khô trong thùng nhựa và trong 11 túi nilon màu trắng, đều có kích thước (04 x 7,5)cm - mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Cần sa, có tổng khối lượng 76,694g (bảy sáu phẩy sáu chín bốn gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận:

Ngày 17/8/2020, H đi xe khách từ huyện TY đến thành phố Móng Cái chơi, khi đến khu vực bãi đất trống gần bến xe Ka Long, Móng Cái thì gặp một người thanh niên tên Hùng (không rõ lai lịch, địa chỉ) mời hút thuốc. H hút và nhận ra đây là ma túy, loại Cần sa. Tại đây, H mua của Hùng 1.500.000 đồng Cần sa nhằm mục đích để bán kiếm lời và sử dụng dần. Cùng ngày, Hòa mang số Cần sa mua được về để vào trong thùng nhựa màu trắng - đỏ và cất giấu tại gầm giường ở phòng trọ tại phố ĐT, thị trấn TY. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26/8/2020, khi vừa bán trái phép ma túy cho Đỗ Thế A thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Người làm chứng các anh Đỗ Thế A, Ngô Đức A1, Lương Văn T có lời khai đều không có quan hệ gì với bị cáo và phù hợp với lời khai của bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY truy tố Nguyễn Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị xử bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo H từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn sau giám định; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 thùng nhựa kích thước (26x37x30) cm màu trắng đỏ, đã qua sử dụng và trả lại cho bị cáo số tiền 1.030.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng các anh Đỗ Thế A, Ngô Đức A1, Lương Văn T; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định và Cáo trạng.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 15 phút ngày 26/8/2020, tại phòng trọ của Nguyễn Đức H, thuộc phố ĐT, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức H có hành vi bán trái phép 1,412g (một phẩy bốn một hai gam) thực vật khô là ma túy, loại cần sa cho Đỗ Thế A, với giá 100.000đ (một trăm nghì đồng). Nguyễn Đức H còn tàng trữ trái phép 76,694g (bảy sáu phẩy sáu chín bốn gam) thực vật khô là ma túy, loại cần sa, nhằm mục đích để bán và sử dụng. Bị Công an huyện TY phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, đã cất giấu tại gầm giường ở phòng trọ tại phố ĐT, thị trấn TY tổng khối lượng 1,412g + 76,694g = 78,106g thực vật khô là ma túy, loại Cần sa mục đích để bán kiếm lời và sử dụng. Khi Bị cáo H bán 1,412 g thực vật khô là ma túy, loại cần sa cho đối tượng Đỗ Thế A với giá 100.000đ thì bị Cơ quan công an huyện TY bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và vi phạm Luật Phòng, chống ma túy; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 14/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Đức H ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 bị cáo có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản nhưng Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung nêu trên đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy; 01 thùng nhựa màu đỏ trắng kích thước (26x37x30) là công cụ cất giấu ma túy không có giá trị gì nên cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 100.000 đồng do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; số tiền 1.030.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho Bị cáo H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TY tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, về nhân thân, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

Nội dung khác:

Đối với đối tượng tên Hùng, Nguyễn Đức H khai là người bán ma túy (Cần sa) cho Hòa tại khu vực bến xe Ka Long, thành phố Móng Cái, nhưng không rõ lai lịch, địa chỉ, nên không điều tra làm rõ được để xử lý.

Đối với Đỗ Thế A có hành vi tàng trữ trái phép 1,412g thực vật khô là ma túy, loại Cần sa để sử dụng, chưa đủ cơ sở để xử lý về hình sự, Cơ quan Công an huyện TY đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Thế Anh.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 26/8/2020).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định 1,24 gam thực vật khô là ma túy, loại cần sa, trong niêm phong số 1211/KLGĐ; toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định 74,591 gam thực vật khô là ma túy, loại cần sa, trong niêm phong số PS2A 001033 và 01 thùng nhựa kích thước (26x37x30) cm màu trắng – đỏ, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H số tiền 1.030.000đ (một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

(Tình trạng như tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 02/CCTHADS-BB ngày 16/10/2020 giữa Công an huyện TY và Chi cục thi hành án dân sự huyện TY).

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ