- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Tuấn K phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt Cải tạo; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày 24-9-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phƣơng Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyền
Bà Hồ Thị Lan Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa:Ông Phan Lê Thành - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Hồ Tuấn K, sinh ngày 21/12/2001 tại Quảng Trị. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Ph, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Nghề nghiệp: không nghề; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định được và con bà: Hồ Thị H, sinh năm: 1983, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Hồ Thị L (là bà ngoại của bị cáo) sinh năm: 1955, trú tại: Thôn Ph, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Trung Th, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Bị hại: Chị Hồ Thị Th, sinh năm: 1986, trú tại: Khóm K, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1973, trú tại: Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
Người phiên dịch: ông Hồ Viết H, nghề nghiệp: Giáo viên tiếng Bru-Vân Kiều, trú tại: Khóm L, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 06/3/2020, Hồ Tuấn K đi bộ từ nhà tại thôn Ph, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị lên Cầu mới ở thị trấn Krông Klang, huyện Đakrông chơi hóng mát, sau đó K đi bộ về lại nhà. Đến khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 07/3/2020 khi đang trên đường đi bộ về nhà K thấy nhà bà Hồ Thị Th ở khóm K, thị trấn K, huyện Đakrông có tường rào bảo vệ bằng bê tông, có cổng sắt đóng kín, bên trong nhà tắt điện. Vì đói bụng nên K nảy sinh ý định vào nhà bà Th để tìm thức ăn. K đi đến vị trí tường rào gần cổng, trèo vào phía bên trong, vì trời tối nên K lấy đèn pin trong túi quần ra soi và đi vào nhà. Khi vào bên trong nhà, K thấy một phòng ở có cửa khép hờ trong phòng không có người nên đã mở cửa vào phòng, K dùng đèn pin soi quanh phòng để tìm kiếm thì thấy một cái giỏ nhựa màu đỏ dưới gầm giường nên đã dùng tay kéo giỏ ra khỏi gầm giường và phát hiện trong giỏ có 01 chiếc ví màu đỏ có khuy kéo, K kéo khuy ra thì thấy bên trong có 5.150.000 đồng. K lấy ví và toàn bộ số tiền cất vào túi quần, đẩy giỏ vào lại gầm giường, sau đó đi ra khỏi phòng và leo qua hàng rào ra đường quốc lộ rồi về nhà. Đến khoảng 7 giờ, sau khi ăn uống tại chợ Trung tâm thị trấn thì K đến Cửa hàng điện thoại K hỏi mua điện thoại di động. thấy nghi ngờ về nguồn gốc số tiền nên chị Nguyễn Thị Q đã báo cho Công an thị trấn Krông Klang tại Công an thị trấn Krông Klang Kiệt đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Vật chứng thu giữ gồm: 4.950.000 đồng tiền mặt, 01 ví vải màu đỏ có khuy kéo bằng kim loại có kích thước 17 cm x 20 cm.
Tại bản kết luận giám định số: 704/KLGĐ ngày 05/8/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận tình trạng tâm thần tại thời điểm phạm tội đối với Hồ Tuấn Kiệt: Về mặt y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình có tật chứng tác phong đáng kể (F71.1); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS-ĐKr ngày 07/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Hồ Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, p, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo là người bị khuyết tật nặng, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, không có khả năng lao động nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
Người bào chữa và Người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với đề xuất của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị xử phạt 6 đến 8 tháng Cải tạo không giam giữ
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như trong hồ sơ thể hiện, nhất trí với tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông đề nghị và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/3/2020, lợi dụng đêm tối và mọi người đã ngủ say, Hồ Tuấn K đã lén lút vào nhà chị Hồ Thị Th lấy cắp số tiền 5.150.000 đồng (năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo Hồ Tuấn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Hồ Tuấn K đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của chị Hồ Thị Th được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới, phòng ngừa và răn đe các đối tượng đang có ý định phạm tội như bị cáo.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên trong điều kiện khó khăn, mẹ bị cáo bị tai biến nên không thể chăm sóc, giáo dục bị cáo chu đáo, bị cáo là người khuyết tật nặng; bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự thú, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, p, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt Cải tạo không giam giữ cũng đủ có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Bị cáo là người bị khuyết tật nặng, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, không có khả năng lao động nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đakrông đã trả lại 4.950.000 đồng, 01 ví vải màu đỏ cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Thị Th đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, p, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1.Tuyên bố bị cáo Hồ Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hồ Tuấn K 06 tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Hồ Tuấn K cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo là người bị khuyết tật nặng, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, không có khả năng lao động nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
2. Về án phí: Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị cáo, Người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Đakrông; - Công an huyện Đakrông; - Chi cục THADS huyện Đakrông; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị cáo; - Người bào chữa; - Bị hại; - Tổ HCTP; Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Phƣơng Tiến |