- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Đức H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày: 23-6-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lộc Thị Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Hòa
2. Bà Nguyễn Thị Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện VKSND huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2020/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Đức H, sinh năm 1978 tại Cao Bằng; nơi cư trú: Bản L, xã Đ, huyện M, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn K, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949; vợ: Lý Thị K, sinh năm 1990 và 01 con, sinh năm 2010; tiền án: 02 tiền án: Ngày 11/4/2017 bị TAND huyện M, tỉnh Đăk Nông xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 21/8/2018 bị TAND huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 08/3/2020 đến ngày 13/3/2020 chuyển sang biện pháp tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút - Có mặt.
- Bị hại: Anh Y và chị H
Cùng địa chỉ: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Hoàng Văn Đ
Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 08/3/2020, bị cáo Triệu Đức H đến nhà Hoàng Văn Đ, thôn V, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông để chơi. Tại đây, Đ rủ đi trộm cắp hạt điều thì H đồng ý, sau đó Đ và H đi đến rẫy của anh Y ở thôn V, xã T thấy không có ai trông coi nên Đ và H bắt đầu nhặt trộm hạt điều. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị anh Y và vợ là H phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng của vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút thu giữ: 01 bao ni lông đựng hạt điều tươi có trọng lượng 1,4kg;
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 10/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 1,4kg hạt điều tươi trị giá 35.000đ (ba mươi lăm nghìn đồng);
Quá trình điều tra xác định được 1,4kg hạt điều tươi là của anh Y nên ngày 02/4/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Y và chị H là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Y và chị H đã nhận lại được tài sản bị mất, không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 20/CTr-VKS ngày 15/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Triệu Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Triệu Đức H từ 06 (sau) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut đã trả lại 1,4kg hạt điều tươi cho anh Y và chị H là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Y và chị H đã nhận lại tài sản, không không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo Triệu Đức H khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi đúng với hành vi cáo trạng đã truy tố và đồng ý với tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã đề nghị, không có ý kiến phản đối, kêu oan. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác đúng như nội dung cáo trạng mà VKSND huyện Cư Jút đã truy tố.
Xét hành vi của bị cáo: Vào khoảng từ 13 giờ 15 phút đến 15 giờ ngày 08/3/2020, tại khu vực rẫy của anh Y ở thôn V, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Triệu Đức H (có 02 tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) có hành vi trộm cắp 1,4kg hạt điều tươi của nhà anh Y trị giá 35.000đ (Ba mươi lăm nghìn đồng). Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp chỉ 35.000 đồng nhưng bị cáo đã có 02 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo chưa được xóa án tích. Vì vậy, HĐXX có đủ căn cứ để xác định bị cáo Triệu Đức H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
......................
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 209 cửa Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
...................”
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, muốn chiếm đoạt tài sản tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân nhưng không phải mất sức lao động; hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo sống có ích, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và đáp ứng công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của địa phương.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc ngày 02/4/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 1,4kg hạt điều tươi cho anh Y và chị H là chủ sở hữu hợp pháp
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Y và chị H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với Hoàng Văn Đ có hành vi trộm cắp tài sản cùng với bị cáo Triệu Đức H; tuy nhiên, tài sản trộm cắp trị giá dưới 2.000.000đ, Đ chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên ngày 16/3/2020 Công an huyện Cư Jut ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ đối với Hoàng Văn Đ về hành vi trộm cắp tài sản là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Triệu Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Triệu Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Triệu Đức H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/3/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận ngày 02/4/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút ra quyết định xử lý vật chứng: trả lại 1,4kg hạt điều tươi cho anh Y và chị H là chủ sở hữu hợp pháp
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Yvà chị H đã nhận lại tài sản bị mất không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Đức H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND Tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - Công an huyện Cư Jút; - CCTHADS huyện C; - Bị cáo; - Bị hại;; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) LỘC THỊ VINH |