- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Kim Kh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2020 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Nước
2. Ông Dương Quốc Võ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2020/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2020/QĐHPT-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kim Kh, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2020 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Đặng Thị Kim Kh đã trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim Kh và ông Nguyễn Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 27/6/2006 tại UBND xã L. Trong thời gian chung sống, ông B ham chơi số đề, tài xỉu, gây nợ nần. Bà Kh đã đứng ra trả nợ cho ông B nhiều lần nhưng ông B không thay đổi mà tiếp tục dính vào cờ bạc. Từ Tết Nguyên đán năm 2020 vợ chồng bà mâu thuẫn cãi nhau nên bà mang hai con về nhà cha mẹ ruột ở ấp Lồ Ồ, xã Hiệp Mỹ Tây sống cho đến nay. Nay bà Kh cho rằng không còn tình cảm và không muốn tiếp tục sống chung với ông B nên yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Bà Đặng Thị Kim Kh khai bà và ông Nguyễn Văn B có hai đứa con là Nguyễn Kh A, sinh ngày 25/9/2019 và Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 14/01/2007. Bà Kh yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Kh khai vợ chồng bà không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng ông B không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Kh. Ông B cũng được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia các phiên tòa nhưng ông B đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt. Vì vậy, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử: Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử có mặt tại Tòa đã thực hiện đúng các thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Kim Kh.
+ Về con chung: Vị Kiểm sát viên đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Kh A, sinh ngày 25/9/2019 và Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 14/01/2007 (theo nguyện vọng cháu Linh) cho bà Đặng Thị Kim Kh nuôi dưỡng.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Kh không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
+ Về tài sản chung: Bà Kh không có yêu cầu chia tài sản chung. Ông B chưa có ý kiến về chia tài sản chung nên đề nghị không xem xét.
+ Về nợ chung: Bà Kh khai không có. Ông B chưa có ý kiến về nợ chung nên đề nghị không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về kiến nghị khắc phục: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Đặng Thị Kim Kh khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn B và yêu cầu giải quyết việc nuôi con giữa bà Kh và ông B. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Văn B có hộ khẩu thường trú tại Ấp A, xã L, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn B là bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Ông B cũng không có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét ý kiến của nguyên đơn, Kiểm sát viên và căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn B.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim Kh và ông Nguyễn Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 27/6/2006 tại UBND xã Long Hữu theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của bà Kh và ông B là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo bà Kh trong thời gian chung sống, giữa bà Kh và ông B có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà Kh là do ông B ham chơi cờ bạc rồi gây nợ nần. Bà đã nhiều lần trả nợ nhưng sau đó ông B lại tiếp tục chơi cờ bạc. Vì thế mà vợ chồng bà cự cãi nhau. Bà đưa hai con về nhà cha mẹ ruột sống và ly thân từ Tết năm 2020 cho đến nay. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện không rõ mâu thuẫn giữa ông B và bà Kh là gì nhưng thực tế là ông B và bà Kh đã ly thân. Bà Kh hiện đang sống tại nhà cha mẹ ruột. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải tạo điều kiện để bà Kh và ông B đoàn tụ tiếp tục chung sống nhưng bà Kh vẫn muốn ly hôn ông B. Còn ông B thì biết việc bà Kh nộp đơn ly hôn nhưng vắng mặt tại phiên họp hòa giải mà không có lý do chính đáng. Khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông B đều vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng muốn được hạnh phúc là phải cùng yêu thương nhau, cùng chung sống và cùng mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên sau khi Tòa án tổ chức hòa giải, bà Kh một mực cương quyết yêu cầu ly hôn ông B vì cho rằng không còn tình cảm với ông B và không muốn tiếp tục chung sống với ông B. Tại phiên tòa, bà Kh không đồng ý rút lại đơn khởi kiện. Điều này cho thấy khả năng để bà Kh và ông B đoàn tụ để chung sống là rất khó thực hiện được. Bà Kh và ông B hiện tại đang sống ly thân. Trong thời gian này, bà Kh và ông B cũng không tìm gặp nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Kim Kh như đề nghị của vị Kiểm sát viên.
Về nuôi con: Bà Kh và ông B có con chung là Nguyễn Kh A, sinh ngày 25/9/2019 và Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 14/01/2007. Hội đồng xét xử thấy rằng tình yêu thương của cha mẹ dành cho con là như nhau. Việc giao con cho bà Kh hay ông B nuôi phải trên cơ sở bên nào đảm bảo quyền lợi tốt nhất dành cho các con. Tuy nhiên, hai con chung thực tế sống với bà Kh trong thời gian vợ chồng ly thân. Mặc khác, cháu An mới hơn 01 tuổi, cháu Linh cũng trình bày nguyện vọng được sống chung với bà Kh. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao hai con chung cho bà Đặng Thị Kim Kh tiếp tục trông nôm, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị Kim Kh là người được giao nuôi hai con chung nhưng không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau khi ly hôn, bà Đặng Thị Kim Kh có quyền yêu cầu ông Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Bà Đặng Thị Kim Kh không có yêu cầu chia tài sản; ông Nguyễn Văn B chưa có ý kiến chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết.
Về nợ: Bà Đặng Thị Kim Kh khai không có nợ chung với ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn B chưa có ý kiến về nợ chung với bà Đặng Thị Kim Kh nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Đặng Thị Kim Kh không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí hoặc không phải nộp án phí. Vì vậy, bà Đặng Thị Kim Kh là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Kim Kh. Bà Đặng Thị Kim Kh được ly hôn ông Nguyễn Văn B.
2. Về con chung: Giao Nguyễn Kh A, sinh ngày 25/9/2019 và Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 14/01/2007 (theo nguyện vọng cháu Linh) cho bà Đặng Thị Kim Kh tiếp tục trông nôm, nuôi dưỡng và giáo dục.
Không ai được quyền cản trở bà Đặng Thị Kim Kh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con, cũng như cản trở ông Nguyễn Văn B thăm nom các con.
Vì lợi ích của các con chung, khi cần thiết và có yêu cầu của ông Nguyễn Văn B hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án sẽ xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
Nếu ông Nguyễn Văn B lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì bà Đặng Thị Kim Kh có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nôm con của ông Nguyễn Văn B theo quy định pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đặng Thị Kim Kh không yêu cầu ông Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi hai con chung nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, bà Đặng Thị Kim Kh có quyền yêu cầu ông Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi hai con chung theo quy định pháp luật.
4. Về tài sản chung: Bà Đặng Thị Kim Kh không yêu cầu và ông Nguyễn Văn B chưa có ý kiến yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, nếu bà Đặng Thị Kim Kh và ông Nguyễn Văn B có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thì bà Kh hoặc ông B có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
5. Về nợ: Bà Đặng Thị Kim Kh khai không có; ông Nguyễn Văn B chưa có ý kiến về nợ chung với bà Kh nên ghi nhận ý kiến và không xem xét.
6. Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Kim Kh phải chịu án dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0009469 ngày 22/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải. Như vậy, bà Đặng Thị Kim Kh đã nộp xong án phí. Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
7. Nguyên đơn bà Đặng Thị Kim Kh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND TX. Duyên Hải; - Chi cục THADS TX. Duyên Hải; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. (9 bản) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tấn Thanh |