- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Ngô Thị Kim D yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Thanh S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị Kim D và anh Huỳnh Thanh S (theo giấy chứng nhận kết hôn số 05/2015, quyển số 09/2014, Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/01/2015).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Gấm;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2020/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2020, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Kim D, sinh năm 1996.
Thƣờng trú: 10/16 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Tạm trú: 30/19 khu phố N, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh S, sinh năm 1984.
Thƣờng trú: 10/16 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
- Người làm chứng:
1/ Ông Huỳnh Văn Th, sinh năm 1950;
2/ Bà Dƣơng Thị B, sinh năm 1954.
Cùng thƣờng trú: 10/16 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/12/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Ngô Thị Kim D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Kim D và anh Huỳnh Thanh S, tìm hiểu nhau đƣợc thời gian, thì đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 05/2015, quyển số 09/2014 do Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/01/2015, việc kết hôn do hoàn toàn tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình đồng ý.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà chồng ở phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng. Ngay từ những ngày đầu kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, cách sống, vợ chồng không quan tâm, không có sự chia sẽ, chăm sóc lẫn nhau, anh S sống không có trách nhiệm, không lo cho gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Chị D cố gắng chịu đựng sống vì các con, nhƣng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị Ngô Thị Kim D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Huỳnh Thanh S.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên Tr, sinh ngày 29/11/2016 và Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/10/2018. Khi ly hôn chị D yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/10/2018 và đồng ý giao con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên Tr, sinh ngày 29/11/2016 cho anh Huỳnh Thanh S đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng, không ai phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung (nghĩa vụ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 05/3/2020 và tại phiên tòa bị đơn anh Huỳnh Thanh S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Thanh S thống nhất với phần trình bày của chị Ngô Thị Kim D thời gian tìm hiểu, thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống, quan hệ vợ chồng. Ngay từ những ngày đầu kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, cách sống, vợ chồng không quan tâm, không có sự chia sẽ, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Nay anh Huỳnh Thanh S xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, nên trƣớc yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị Kim D thì anh S cũng đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Anh Huỳnh Thanh S xác định vợ chồng có hai con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên Tr, sinh ngày 29/11/2016 và Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/10/2018. Khi ly hôn anh S yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi hết hai con chung, không yêu cầu chị Ngô Thị Kim D phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2020 người làm chứng ông Huỳnh Văn Th và bà Dương Thị B trình bày: Ông Huỳnh Văn Th và bà Dƣơng Thị B là cha mẹ ruột của anh Huỳnh Thanh S và là cha mẹ chồng của chị Ngô Thị Kim D. Vợ chồng anh, chị kết hôn vào năm 2015, sau khi kết hôn thì vợ chồng anh, chị sống chung với gia đình ông, bà tại 10/16 khu phố B, phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng. Vơ chồng anh S, chị D sống hạnh phúc đƣợc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì ông, bà không thể biết cụ thể mà chỉ thấy chị D thƣờng xuyên kiếm chuyện gây gỗ với chồng (anh S), ngoài ra thì chị D còn kiếm chuyện gây gỗ mẹ chồng (bà B). Đến cuối năm 2019 thì chị D đã bỏ nhà chồng đem theo con nhỏ ra ngoài sinh sống cho đến nay. Việc chị D nộp đơn ly hôn với anh S tại Tòa án thì ông, bà không có ý kiến gì, việc này để vợ chồng anh S, chị D tự giải quyết với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và đƣơng sự chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Ngô Thị Kim D thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Huỳnh Thanh S có địa chỉ tại phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Kim D và anh Huỳnh Thanh S là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 05/2015, quyển số 09/2014, ngày 30/01/2015, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của chị D, anh S trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa thì thực tế cuộc sống vợ chồng của anh chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, cách sống, vợ chồng không quan tâm, không có sự chia sẽ, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Đồng thời, mâu mâu thuẫn của chị D, anh S đƣợc ông Huỳnh Văn Th và bà Dƣơng Thị B là cha, mẹ của anh Huỳnh Thanh S xác nhận. Tại phiên tòa chị D yêu cầu đƣợc ly hôn, anh S cũng đồng ý nên có căn cứ công nhận sự thuận tình ly hôn của các đƣơng sự. Xét thấy, sự thuận tình ly hôn của đƣơng sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử công nhận.
Về con chung: Giữa chị Ngô Thị Kim D và anh Huỳnh Thanh S có hai con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên Tr, sinh ngày 29/11/2016 và Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/10/2018. Khi ly hôn chị Ngô Thị Kim D yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi cháu Huỳnh Thanh H và giao con chung là cháu Huỳnh Ngọc Uyên Tr cho anh S trực tiếp nuôi dƣỡng, không ai phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Anh S yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hết hai con chung, không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng cần phải xem xét về mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét hiện nay anh S là ngƣời trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng cháu Tr, chị D cũng đồng ý giao cháu Tr cho anh S nuôi dƣỡng sau ly hôn. Cháu H còn nhỏ dƣới 36 tháng tuổi và chị D là ngƣời trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng, để bảo đảm quyền lợi của các đƣơng sự khi ly hôn và đảm bảo tiếp tục duy trì cuộc sống bình thƣờng về mọi mặt của các cháu nên giao con chung là cháu Huỳnh Ngọc Uyên Tr, sinh ngày 29/11/2016 cho anh S trực nuôi dƣỡng và giao cháu Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/10/2018 cho chị D trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Do các đƣơng sự không có yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con nên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu Tòa án giải quyết.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Ngô Thị Kim D với anh Huỳnh Thanh S.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là phù hợp nhƣ những phân tích nêu trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Kim D chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị Kim D và anh Huỳnh Thanh S (theo giấy chứng nhận kết hôn số 05/2015, quyển số 09/2014, Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/01/2015).
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên Tr, sinh ngày 29/11/2016 cho anh Huỳnh Thanh S trực tiếp nuôi dƣỡng sau ly hôn và tiếp tục giao con chung tên Huỳnh Thanh H, sinh ngày 19/10/2018 cho chị Ngô Thị Kim D trực tiếp nuôi dƣỡng sau ly hôn.
Sau khi ly hôn, chị Ngô Thị Kim D và anh Huỳnh Thanh S có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở chị D và anh S thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.
3. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Kim D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0039985 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng.
6. Nguyên đơn chị Ngô Thị Kim D và bị đơn anh Huỳnh Thanh S có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - CCTHA DS thành phố Dĩ An; - UBND phƣờng An Bình, Tp. Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Minh Châu |