vanban.org

Bản án 18/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Vì Thị T.

Về án phí : Anh Nguyễn Văn Qt phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009665 ngày 22/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, anh Quyết đã nộp đủ tiền án phí. Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn, bị đơn, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Vì Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HOÀ - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 18/2020/HNGĐ-ST
Ngày 11/8/2020
V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa :
Anh Nguyễn Văn Q và chị Vì Thị T”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Huy Sáu, trưởng ban đoàn kết công giáo huyện Ứng Hòa;

2. Bà Bùi Thị Á Khanh, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa, Hà Nội

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên Tòa : Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2020/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 05 năm 2020 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXX – ST ngày 29 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số : 16/2020/QĐST – DSST, ngày 15/7/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyªn ®¬n : Anh NguyÔn V¨n Q, sinh n¨m 1992, cã mÆt

2. BÞ ®¬n : ChÞ V× ThÞ T, sinh n¨m 1993, v¾ng mÆt

§Òu HKTT: Th«n H, x· H, Huyện U, thµnh phè Hµ Néi.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai - Nguyên đơn Anh Nguyễn Văn Q trình bầy : Anh kết hôn với chị Vì Thị T do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội vào tháng 6/2019. Ngay sau khi cưới được vài ngày đầu thì vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, ngoài ra còn có nguyên nhân quá trình tìm hiểu, yêu đương thông tin qua mạng, sau khi kết hôn chị Tươi cũng chỉ ở nhà anh khoảng một hai tháng rồi bỏ đi, anh đã gọi điện tìm kiếm nhưng chị T không quay về, chị Tcũng mong muốn vợ chồng chia tay sớm. Nay anh có quan điểm : Vợ chồng sống ly thân nhiều tháng nay, không ai hỏi han gì đến ai, tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh Q xác nhận chưa có

Về tài sản chung: anh Q xác nhận không có gì.

Bị đơn chị Vì Thị T : Vắng mặt tại địa phương nên không có quan điểm gì.

Tại phiên tòa :

- Chị Vì Thị Tươi vắng mặt không lý do;

- Anh Nguyễn Văn Q vẫn tha thiết xin được ly hôn;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên tòa kết luận:

+ Về tố tụng : Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng là đúng pháp luật. Người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung : Vợ chồng anh Nguyễn văn Q và chị Vì Thị T trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, không có hạnh phúc thời gia chung sống cùng nhau rất ngắn. Vợ chồng không có tình cảm với nhau, hai người sống ly thân nhiều tháng nay. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Vì Thị T; con chung,tài sản chung không có nên không giải quyết; anh Quyết phải nộp án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và tố tụng : Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q đã nộp đơn cùng các tài liệu, chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình – Theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội. Bị đơn chị Vì Thị T vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự, ngày 15/7/2020 Tòa mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng chị Tươi vắng mặt không lý do nên hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và giao các văn bản tố tụng theo qui định, tại phiên tòa hôm nay chị Tươi vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung :

2.1Về quan hệ hôn nhân : Anh Nguyễn Văn Q và chị Vì Thị T kết hôn do tự nguyện, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội vào tháng 6 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, ngay sau khi kết hôn vợ chồng đã mâu thuẫn, do nhiều nguyên nhân khác nhau vợ chồng sống với nhau được 02 tháng thì chị Tươi bỏ gia đình anh Q đi, vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai nên anh Q xin ly hôn. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: Cuộc sống chung của anh Q và chị T không có hạnh phúc, vợ chồng quen biết nhau qua mạng chưa tìm hiểu kỹ đã kết hôn, anh chị sống ly thân nhiều tháng nay, không có tình cảm với nhau thời gian chung sống rất ngắn.

Hội đồng xét xử xét thấy : Tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Nguyễn Văn Q và chị Vì Thị T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, đơn xin ly hôn của anh Q phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho anh Q được ly hôn với chị T.

2.2 Về con chung, về tài sản, công nợ chung: Đều không có.

Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, kiểm sát viên tham gia phiên Tòa đã nhận xét về thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích, đánh giá mâu thuẫn của vợ chồng anh Q, chị T và đề nghị Tòa xét xử cho anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Vì Thị T.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào : Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271; 273; 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử : Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Vì Thị T.

2.Về án phí : Anh Nguyễn Văn Qt phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009665 ngày 22/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, anh Quyết đã nộp đủ tiền án phí.

3.Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn, bị đơn, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với anh Q, kể từ ngày nhận được bản án được giao hợp lệ hoặc được niêm yết tại nơi thường trú đối với chị T./.

Cỡ chữ