vanban.org

Bản án 18/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Trần Ngọc H1

Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hạnh P, sinh ngày 11/8/2013. Ông Trần Ngọc H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Trần Ngọc H1
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HÀNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 9 - 2020
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chí Ngãi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tấn Hùng.

Ông Trần Văn Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2020/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐST- HNGĐ ngày 10/8/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30/4/2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H tự nguyện kết hôn với ông Trần Ngọc H1 có đăng ký kết hôn ngày 27/7/2015 tại UBND xã D, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Quá trình sống chung có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H1 ham mê cờ bạc, rượu chè, bà H nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H1 không thay đổi mà còn hành hung, xúc phạm, đánh đập, ngược đãi bà.

Vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn ông Trần Ngọc H1.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Trần Hạnh P, sinh ngày 11/8/2013. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Ngọc H1 không có văn bản trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Trần Ngọc H1 nhưng ông H1 không có bản trình bày, bản tự khai, ý kiến phản hồi và cũng không đến Tòa án để làm việc. Ông H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; về xác định tư cách tham gia tố tụng; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bà H và ông H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau thời gian sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do ông H1 ham mê cờ bạc, thường xuyên sử dụng rượu bia, đánh đập ngược đãi bà H làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà H yêu cầu được ly hôn ông H1 là có căn cứ. Áp dụng Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84,110 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Trần Ngọc H1

Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hạnh P, sinh ngày 11/8/2013. Ông Trần Ngọc H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ngày 07/5/2020, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H đối với bị đơn ông Trần Ngọc H1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H kết hôn với ông Trần Ngọc H1 và có đăng ký kết hôn ngày 27/7/2015 tại UBND xã D, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian đầu bà H và ông H1 sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H1 ham mê cờ bạc, rượu chè, ghen tuông vô cớ, đánh đập, ngược đãi bà; đồng thời, hai người đã ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình thì: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, thấy rằng ông H1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Trần Hạnh P, sinh ngày 11/8/2013. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Cháu P đã trên 07 tuổi, nguyện vọng của cháu mong muốn được ở với bà H. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con nên giao cháu P cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ trả nợ: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng phần yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, là phù hợp Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Trần Ngọc H1

2. Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hạnh P, sinh ngày 11/8/2013. Ông Trần Ngọc H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con; việc cấp dưỡng có thể thay đổi.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0004567 ngày 07/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ