- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST Ngày 02-07-2020 V/v tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Ông Nguyễn Hồng Đại
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Phương, Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 tháng 06 năm 2020 và ngày 02 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 513/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2020/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Tô Văn T; nơi ĐKHKTT: Số 161 đường Đ, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, nơi tạm trú: Số 106 Lô 3E đường L, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Ngô Thị H Ng; nơi cư trú: Số 15/45 đường L, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Tô Hoàng P A, sinh ngày 24/5/2005; nơi ĐKHKTT: Số 161 đường Đ, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, nơi tạm trú: Số 106 Lô 3E đường L, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn đề ngày 27/11/2019, trong bản tự khai, quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn anh Tô Văn T trình bày:
Anh và chị Ngô Thị H Ng lấy nhau vào năm 2004, quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc vì vậy anh T và chị Ng đã có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 353/2019/HNGĐ-ST ngày 18/10/2019 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị H Ng và anh Tô Văn T; về việc nuôi con: Chị Ngô Thị H Ng và anh Tô Văn T có hai con chung là Tô Hoàng P A, sinh ngày 24/5/2005 và Tô Hoàng H, sinh ngày 11/01/2009. Chị Ng và anh T thỏa thuận giao con Tô Hoàng P A cho anh T trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con Tô Hoàng H cho chị Ng trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Ng và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; về việc chia tài sản: Chị Ngô Thị H Ng và anh Tô Văn T tự thỏa thuận theo vi bằng số 209/2019/VTHP ngày 18/10/2019. Nội dung của Vi bằng thỏa thuận chung về chia tài sản chung của vợ chồng cụ thể như sau: Trong thời kỳ hôn nhân anh T và chị Ng tạo dựng được khối tài sản chung của vợ chồng là: Quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số ĐG-28, diện tích: 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 548023, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quận Ngô Quyền số H08892/QSDĐ do Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/10/2009 là tài sản chung chị Ng và anh T nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh Nguyễn Danh Nghị và chị Vũ Thị Loan theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 479, quyển số 04/TP/CC-CC/HĐGD do Công chứng viên phòng Công chứng số 5 thành phố Hải Phòng chứng nhận ngày 03/11/2009. Anh T và chị Ng thỏa thuận chị Ng giao cho anh T số tiền là 500.000.000 đồng và chị Ng có toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt thửa đất tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh T có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục để chị Ng đứng tên chủ sủ dụng tài sản riêng của chị Ng đối với bất động sản trên; chị Ng và anh T có tạo lập cho hai con thẻ tiết kiệm phân chia như sau: Thẻ tiết kiệm số seri RA 01957419 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng H mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng sẽ tặng cho cháu Tô Hoàng H, khi cháu đủ tuổi đứng tên chủ tài khoản thì sẽ chuyển giao cho cháu, trong thời gian cháu chưa đủ tuổi đứng tên sẽ do mẹ cháu là Ngô Thị H Ng quản lý; thẻ tiết kiệm số seri RA 01957420 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng P A mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng sẽ tặng cho cháu Tô Hoàng P A, khi cháu đủ tuổi đứng tên chủ tài khoản thì sẽ chuyển giao cho cháu, trong thời gian cháu chưa đủ tuổi đứng tên sẽ do bố cháu là Tô Văn T quản lý. Anh Tô Văn T và chị Ngô Thị H Ng cam kết trong thời gian quản lý thẻ tiết kiệm của các con, hai người sẽ không được vì bất kỳ mục đích gì mà sử dụng đến số tiền trong thẻ tiết kiệm nói trên.
Sau khi tòa án nhân dân quận Ngô Quyền ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 353/2019/HNGĐ-ST ngày 18/10/2019. Chị Ng đã giao cho anh T số tiền là 300.000.000 đồng, còn 200.000.000 đồng chị Ng chưa thanh toán cho anh T. Mặt khác chị Ng đã không thực hiện chuyển giao sổ tiết kiệm mang tên cháu Tô Hoàng P A cho anh T là người giám hộ để quản lý mà dùng số tiền 500.000.000 đồng tiết kiệm lập sổ tiết kiệm mang tên người gửi tiết kiệm là cháu Tô Hoàng P A. Nhưng vẫn mang giám hộ chịu trách nhiệm mang tên Ngô Thị H Ng là chủ tài khoản để giao dịch. Anh T đã trực tiếp làm việc với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và đại diện Ngân hàng cho biết số tiền tiết kiệm seri RA 01957420 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng P A. Nhưng vẫn lấy giám hộ chịu trách nhiệm mang tên chủ tài khoản Ngô Thị H Ng để giao dịch và chị Ng là người định đoạt số tiền gửi của cháu Tô Hoàng P A. Vì vậy anh Tô Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền buộc chị Ngô Thị H Ng phải thực hiện theo Vi bằng số 209/2019/VB-TPLHP ngày 18/10/2019.
Trong bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, bị đơn trình bày:
Chị Ng và anh T lấy nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc lên đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 353/2019/HNGĐ-ST ngày 18/10/2019, Tòa án đã quyết định cho chị Ng được ly hôn với anh T; về việc nuôi con: Chị Ngô Thị H Ng và anh Tô Văn T có hai con chung là Tô Hoang P A, sinh ngày 24/5/2005 và Tô Hoàng H, sinh ngày 11/01/2009. Chị Ng và anh T thỏa thuận giao con Tô Hoàng P A cho anh T nuôi; giao con Tô Hoàng H cho chị Ng nuôi. Về tài sản chung chị Ng và anh T thỏa thuận theo Vi bằng số 209/2019/VB-TPLHP ngày 18/10/2019; tài sản chung là Quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số ĐG-28, diện tích: 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận quyện sử dụng đất số AO 548023, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quận Ngô Quyền số H08892/QSDĐ do UBND quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/10/2009 và 1.000.000.000 đồng. Chị Ng và anh T thỏa thuận đối với giá trị mảnh đất chị Ng có trách nhiệm trả cho anh T 500.000.000 đồng và anh T có trách nhiệm hoàn thiện thủ tục để mảnh đất mang toàn quyền sử dụng của chị Ng. Bản thân chị Ng đã giao cho anh T 300.000.000 đồng. Do anh T vẫn chưa làm thủ tục cho chị Ng như hủy hợp đồng công chứng giữa chị Ng, anh T và vợ chồng anh Nghị và lập biên bản tài sản đã được thỏa thuận. Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng chị Ng và anh T thỏa thuận và tặng cho hai con mỗi con 500.000.000 đồng. Chị Ng đề nghị anh T phải tôn trọng và thực hiện đúng quyền lợi của mình và đúng quy định pháp luật. Do cuối năm 2019 chị Ng rất nhiều việc mặt khác sức khỏe không tốt nên chị Ng đang dồn tiền để đi chữa bệnh. Vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền cho chị một thời gian 03 tháng khoảng giữa tháng 4/2020 chị thu xếp xong việc và chuẩn bị tiền để giải quyết dứt điểm vụ án này theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Tô Hoàng P A trình bày: Cháu được biết bố mẹ cháu khi ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền có thỏa thuận chia tài sản chung qua việc lập vi bằng. Theo vi bằng bố mẹ cháu thỏa thuận sẽ tạo lập cho hai chị em cháu hai sổ tiết kiệm mỗi sổ 500.000.000 đồng. Nay bản thân cháu đã đủ tuổi đứng tên sổ tiết kiệm mà bố mẹ thống nhất cho cháu 500.000.000 đồng. Để bảo đảm quyền lợi của cháu, cháu đề nghị được đứng tên và toàn quyền quản lý và sử dụng số tiền bố mẹ cháu đã thỏa thuận theo vi bằng. Người giám hộ cháu là bố cháu Tô Văn T không có quyền gì đối với tài sản của cháu.
Tại phiên tòa ngày 03/6/2020:
Nguyên đơn anh Tô Văn T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể:
Đối với Quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số ĐG-28, diện tích: 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Do cô Ngân không thực hiện đúng thỏa thuận theo vi bằng đã ký nên anh T đề nghị hủy thỏa thuận và định giá lại giá trị mảnh đất bao nhiên tiền sau đó chia đôi. Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là anh T phải được giám hộ số tiền 500.000.000 đồng của cháu Tô Hoàng P A hiện đã gửi tại Ngân hàng.
Bị đơn chị Ngô Thị H Ng đề nghị được trả 200.000.000 đồng thực hiện theo vi bằng nhưng anh T không nhận. Hiện cháu Tô Hoàng P A đã đủ 15 tuổi và đã tự đứng tên được chủ tài khoản của sổ tiết kiệm nên tôi sẽ có trách nhiệm chuyển giao cho cháu P A sổ tiết kiệm và anh T không có liên quan gì.
Do tại thời điểm xét xử ngày 03/6/2020 cháu Tô Hoàng P A, sinh ngày 24/5/2005 đã đủ 15 tuổi theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự…” Mặt khác tại Vi bằng số 209/2019/VB-TPLHP ngày 18/10/2019 anh T và chị Ng có thỏa thuận khi cháu Tô Hoàng P A đủ tuổi đứng tên chủ tài khoản sẽ chuyển giao cho cháu. Vì vậy Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa và triệu tập cháu Tô Hoàng P A tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và cần thu thập bổ sung một số tài liệu chứng cứ mà tại phiên tòa không thực hiện được.
Tại phiên tòa ngày 02/7/2020:
Nguyên đơn anh Tô Văn T và chị Ngô Thị H Ng giữ nguyên quan điểm như phiên tòa trước và có trình bày số tiền trước đây gửi có seri RA 01957420 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng P A tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng. Bản thân chị Ng đã rút hết vào ngày 06/12/2019. Tại phiên tòa chị Ng có xuất trình lại sổ tiết kiệm mới có giá trị 500.000.000 đồng mang tên chủ thẻ là Tô Hoàng P A và hứa sẽ chuyển giao sổ tiết kiệm cho cháu Tô Hoàng P A. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Tô Hoàng P A giữ nguyên quan điểm như lời khai trong bản tự khai đề nghị bố Tô Văn T và mẹ Ngô Thị H Ng thực hiện đúng như vi bằng đã thỏa thuận. Hiện cháu đã đầy đủ tư cách theo quy định pháp luật để đứng tên chủ tài khoản của sổ tiết kiệm.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Tòa án nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Tô Văn T, buộc chị Ngô Thị H Ng phải thanh toán nốt cho anh Tô Văn T 200.000.000 đồng và anh Tô Văn T có nghĩa vụ sang tên toàn bộ quyền quản lý, sử dụng, định đoạt thửa đất tại địa chỉ 4C Đ, Đ, Ngô Quyền, Hải Phòng cho chị Ngô Thị H Ng. Chị Ng phải lập lại Sổ tiết kiệm có giá trị 500.000.000 đồng và chuyển giao cho cháu Tô Hoàng P A dưới sự giám hộ của anh Tô Văn T.
Về án phí: Chị Ngô Thị H Ng phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị Ngô Thị H Ng cư trú tại số nhà 15/45 đường Lê Lợi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Xét về nội dung vụ án:
Trong thời kỳ hôn nhân anh Tô Văn T và chị Ngô Thị H Ng có tài sản chung là mảnh đất với diện tích là 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận quyện sử dụng đất số AO 548023, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quận Ngô Quyền số H08892/QSDĐ do Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/10/2009 và 1.000.000.000 đồng. Anh T và chị Ng thỏa thuận theo Vi bằng số 209/2019/VB-TPLHP ngày 18/10/2019 với nội dung: Chị Ng giao cho anh T số tiền là 500.000.000 đồng và chị Ng có toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt thửa đất tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh T có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục để chị Ng đứng tên chủ sủ dụng tài sản riêng của chị Ng đối với bất động sản trên. Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng chị Ng và anh T có tạo lập cho hai con thẻ tiết kiệm phân chia như sau: Thẻ tiết kiệm số seri RA 01957419 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng H mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng sẽ tặng cho cháu Tô Hoàng H, khi cháu đủ tuổi đứng tên chủ tài khoản thì sẽ chuyển giao cho cháu, trong thời gian cháu chưa đủ tuổi đứng tên sẽ do mẹ cháu là Ngô Thị H Ng quản lý; thẻ tiết kiệm số seri RA 01957420 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng P A mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng sẽ tặng cho cháu Tô Hoàng P A, khi cháu đủ tuổi đứng tên chủ tài khoản thì sẽ chuyển giao cho cháu, trong thời gian cháu chưa đủ tuổi đứng tên sẽ do bố cháu là Tô Văn T quản lý. Anh Tô Văn T và chị Ngô Thị H Ng cam kết trong thời gian quản lý thẻ tiết kiệm của các con, hai người sẽ không được vì bất kỳ mục đích gì mà sử dụng đến số tiền trong thẻ tiết kiệm nói trên. Sau khi thỏa thuận theo vi bằng chị Ng đã giao cho anh T số tiền là 300.000.000 đồng, chị Ng còn thiếu 200.000.000 đồng và anh T chưa làm thủ tục chuyển giao quyền sử dụng đất cho chị Ng. Mặt khác chị Ng lập thẻ tiết kiệm số seri RA 01957420 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng P A mở tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng, nhưng vẫn lấy giám hộ chịu trách nhiệm mang tên chủ tài khoản Ngô Thị H Ng để giao dịch. Do chị Ng không thực hiện theo vi bằng đã thỏa thuận, vì vậy anh T đã khởi kiện ra tòa án.
Hội đồng xét xử nhận định:
Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng theo Vi bằng số 209/2019/VB-TPLHP ngày 18/10/2019 của anh Tô Văn T và chị Ngô Thị H Ng phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật Dân sự. Vì vậy thỏa thuận của anh T và chị Ng phát sinh quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận của vi bằng đã ký. Việc yêu cầu khởi kiện của anh T đối với chị Ng hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc chị Ngô Thị H Ng phải trả cho anh Tô Văn T số tiền là 200.000.000 đồng và anh Tô Văn T có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục để chị Ngô Thị H Ng đứng tên chủ sử dụng tài sản riêng đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số ĐG-28, diện tích: 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 548023, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quận Ngô Quyền số H08892/QSDĐ do Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/10/2009.
Đối với thẻ tiết kiệm số seri RA 01957420 mang tên người gửi tiền: Tô Hoàng P A mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng. Qua xác minh được biết chị Ng đã rút toàn bộ số tiền 500.000.000 đồng của cháu Tô Hoàng P A. Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Ng rút toàn bộ số tiền của cháu Tô Hoàng P A tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng là vi phạm thỏa thuận theo vi bằng đã ký. Mặt khác hiện cháu Tô Hoàng P A đã 15 tuổi. Theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự, qua thanh tin lấy từ ngân hàng và theo thỏa thuận giữa chị Ng và anh T tại vi bằng. Cháu Tô Hoàng P A đã đủ tuổi đứng tên chủ tài khoản, vì vậy buộc chị Ngô Thị H Ng phải trả cho cháu Tô Hoàng P A số tiền 500.000.000 đồng để cháu Tô Hoàng P A tự mình lập thẻ tiết kiệm tại ngân hàng do cháu Tô Hoàng P A lựa chọn dưới sự giám hộ của anh Tô Văn T theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu của anh Tô Văn T tại phiên tòa có quan điểm thay đổi yêu cầu khởi kiện: Anh T có trách nhiệm trả tiền cho chị Ng và có nguyện vọng đứng tên chủ sử dụng tài sản riêng đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số ĐG-28, diện tích: 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Hội đồng xét xử không chấp nhận vì việc thay đổi yêu cầu của anh T tại phiên tòa là vượt quá yêu cầu khởi kiện.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Tô Văn T được chấp nhận nên chị Ngô Thị H Ng phải chịu án phí là 5% x 200.000.000 đồng = 10.000.000 đồng. Trả lại cho anh T số tiền 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0006176 ngày 17/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Văn T.
- Chị Ngô Thị H Ng phải trả cho anh Tô Văn T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và anh Tô Văn T có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục để chị Ngô Thị H Ng đứng tên chủ sử dụng tài sản riêng đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số ĐG-28, diện tích: 58,48 m² tại địa chỉ số 4C Đ, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận quyện sử dụng đất số AO 548023, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quận Ngô Quyền số H08892/QSDĐ do Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/10/2009.
- Chị Ngô Thị H Ng phải lập lại Sổ tiết kiệm có giá trị là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và chuyển giao cho cháu Tô Hoàng P A dưới sự giám hộ của anh Tô Văn T.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
Chị Ngô Thị H Ng phải nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho anh Tô Văn T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng là tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006176 ngày 17/12/2019 của Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
Anh Tô Văn T, chị Ngô Thị H Ng, cháu Tô Hoàng P A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |